Chương 1 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm Thị trường hiểu theo nghĩa truyền thống là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, bao gồm cả các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất. Trên thị trường, các nhà sản xuất, người tiêu dùng, những người buôn bán kinh doanh, cung cấp dịch vụ quan hệ với nhau thông qua hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ.
Về thực chất, thị trường là chỉ các hoạt động kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi, lưu thông hàng hóa, dịch vụ, là mối quan hệ về kinh tế giữa người với người. Từ đó hình thành nên khái niệm kinh tế thị trường. Xét về bản chất, kinh tế thị trường là một nền kinh tế trong đó các hoạt động kinh tế diễn ra và vận hành dựa trên các quan hệ của thị trường, thể hiện mối quan hệ giữa người mua và người bán trong trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Đứng trên góc độ khoa học kinh tế, kinh tế thị trường là kiểu tổ chức nền kinh tế dựa trên các nguyên tắc và tuân thủ những quy luật của thị trường.
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mở trong đó coi trọng và tuân thủ các quy luật vận động, điều tiết của thị trường, tôn trọng tự do cạnh tranh, tự 14 | QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG do hợp tác, mở rộng giao lưu thương mại, tạo cơ hội cho mọi chủ thể kinh tế tham gia thị trường, tìm kiếm lợi nhuận,. Kinh tế thị trường còn được hiểu là nền kinh tế hàng hóa khi đã đạt trình độ phát triển cao. Lúc này, mọi quan hệ kinh tế nằm trong quá trình tái sản xuất xã hội đã được tiền tệ hóa. Các yếu tố để sản xuất như vốn vật chất, vốn bằng tiền, tài nguyên, đất đai, công nghệ, quản lý, sức lao động, chất xám, các sản phẩm dịch vụ.
đều trở thành đối tượng để các chủ thể có thể trao đổi, mua bán và định giá. Theo Adam Smith - cha đẻ của kinh tế học, kinh tế thị trường luôn luôn có khả năng tự điều chỉnh để duy trì trạng thái cân bằng. Tại đó, cung bằng với cầu, mua và bán gặp nhau để hình thành nên giá cả. Đồng thời, quá trình tự điều chỉnh của kinh tế thị trường mang lại hiệu quả như đảm bảo có năng suất và hiệu quả cao, giá thành hạ và chất lượng tốt; hàng hóa, dịch vụ phong phú và dư thừa.
Kinh tế thị trường luôn có sự năng động, đổi mới về sản phẩm, quy trình sản xuất, ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ. Khi kinh tế thị trường phát triển theo hướng tích cực, đời sống con người ngày một nâng cao, ngày một hiện đại hơn, tạo tiền đề cho sự phát triển của xã hội. Lịch sử hình thành và phát triển của kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là một mô hình tổ chức nền kinh tế trong đó các quan hệ kinh tế, mua bán, trao đổi hàng hóa. phát sinh, kết nối với nhau thành một hệ thống.
Như phần trên đã phân tích, thực chất kinh tế thị trường chính là cách thức tổ chức hoạt động mua và bán diễn ra trong nền kinh tế, tại đó có sự tương tác giữa người mua với người bán, trao đổi C h ư ơ n g 1 : K i n h t ế t h ị t r ư ờ n g | 15 thương lượng với nhau để hình thành nên giá cả của hàng hóa. Như vậy, có thể nói rằng từ khi hình thành các quan hệ trao đổi, mua bán và xuất hiện tiền tệ với vai trò trung gian, đó chính là những dấu hiệu ban đầu của mô hình kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường đã có một lịch sử hình thành và phát triển rất dài, từ kinh tế hàng hóa ở mức sơ khai phát triển lên kinh tế thị trường trình độ cao như ngày nay. Có thể chia sự phát triển kinh tế thị trường thành 3 giai đoạn sau đây: Giai đoạn 1: Từ kinh tế tự nhiên chuyển sang kinh tế hàng hóa giản đơn Mô hình kinh tế đầu tiên mà loài người trải qua là kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp.
Trong kinh tế tự nhiên, sản xuất nhỏ chiếm ưu thế. Về lý thuyết, kinh tế tự nhiên do nhiều đơn vị kinh tế thuần nhất hợp thành và mỗi đơn vị kinh tế ấy tiến hành mọi công đoạn để tạo ra những sản phẩm cuối cùng. Trong các nền kinh tế tự nhiên, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản, công cụ và kỹ thuật canh tác thô sơ, dựa vào lao động chân tay của các cá nhân là chủ yếu, chỉ có trong một số trang trại của địa chủ hoặc phường hội mới có hiệp tác lao động giản đơn. Trong nền kinh tế dưới chế độ phong kiến, phân công lao động kém phát triển, cơ cấu ngành đơn điệu, mới chỉ có một số ngành nghề thủ công tách khỏi nông nghiệp, sản xuất chủ yếu hướng vào giá trị sử dụng, có tính chất tự cung, tự cấp.
Bước đi tất yếu của sản xuất tự cung, tự cấp là tiến lên sản xuất hàng giản đơn. Điều kiện cho quá trình chuyển hóa này là sự phát triển của phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội chính là cơ sở, là nền tảng cốt lõi của 16 | QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG kinh tế hàng hóa. Những người sản xuất ở những vùng khác nhau có những điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ có khả năng và ưu thế trong sản xuất những sản phẩm khác nhau có hiệu quả hơn.
Ngay trong một vùng, một địa phương, những người sản xuất cũng có những khả năng, điều kiện và kinh nghiệm sản xuất khác nhau. Mỗi người sản xuất chỉ tập trung sản xuất sản phẩm nào mà mình có ưu thế, đem sản phẩm của mình trao đổi (mua và bán) lấy những sản phẩm cần thiết cho sản xuất và đời sống của mình. Từ đó, trao đổi, mua bán, thị trường, tiền tệ ra đời và phát triển, hình thành nên kinh tế hàng hóa giản đơn. Giai đoạn 2: Từ kinh tế hàng hóa giản đơn chuyển sang kinh tế thị trường tự do cổ điển Quá trình chuyển từ kinh tế hàng hóa giản đơn sang kinh tế thị trường tự do cổ điển được thực hiện qua ba phân đoạn phát triển của lực lượng sản xuất, kéo theo sự phát triển của quan hệ sản xuất mới thích ứng với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất.
Phân đoạn 1: Kỹ thuật thủ công dựa trên lao động hiệp tác giản đơn Trong phân đoạn này, quá trình hiệp tác giản đơn giữa những người lao động được thực hiện dựa trên cơ sở kỹ thuật thủ công, với quy mô lớn hơn so với tổ chức sản xuất phường hội và sản xuất nhỏ cá thể. Bước đầu tiên là tập trung tư liệu sản xuất, trên cơ sở đó tập trung sức lao động. Với sản xuất ở quy mô lớn hơn trong hiệp tác giản đơn, chủ tư bản phải mua khối lượng lớn nguyên liệu và buôn bán hàng hóa, do đó đã làm xuất hiện một mạng lưới mua gom nguyên liệu và bán lẻ hàng hóa, từ đó thúc đẩy việc sản xuất và trao đổi sâu rộng hơn trong xã hội. Hiệp tác giản đơn đã bước đầu làm xuất C h ư ơ n g 1 : K i n h t ế t h ị t r ư ờ n g | 17 hiện sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa, nâng cao năng suất lao động xã hội lên rất nhiều - đánh dấu bước ngoặt rất quan trọng từ sản xuất nhỏ lên sản xuất quy mô lớn.
Phân đoạn 2: Phân công lao động hình thành công trường thủ công tư bản chủ nghĩa Sự phát triển của hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa tất yếu dẫn tới hiệp tác có phân công, làm xuất hiện các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa. Công trường thủ công là hình thức xí nghiệp tư bản thực hiện sự hiệp tác có phân công dựa trên cơ sở kỹ thuật thủ công. Công trường thủ công hình thành bằng cách tập hợp những thợ thủ công khác nghề, hoặc những thợ thủ công cùng nghề vào trong một xưởng để cùng sản xuất ra một loại hàng hóa. Công trường thủ công có đặc điểm về tổ chức và kỹ thuật khác với hiệp tác giản đơn trong giai đoạn trước, đó là quá trình sản xuất được phân chia thành những phân đoạn, trên cơ sở đó mỗi công nhân chỉ chuyên làm một công việc bộ phận, từ đó lắp ráp các kết quả của mỗi công đoạn với nhau tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Đây chính là chuyên môn hóa trên phạm vi hẹp. Cũng như phân đoạn trước, cơ sở kỹ thuật của phân đoạn này về cơ bản vẫn là thủ công với công cụ chuyên dùng, phân phối và sản xuất theo kinh nghiệm cổ truyền nên chủ yếu dựa vào tay nghề khéo léo của công nhân. Cơ cấu tổ chức của công trường thủ công gồm những người lao động bộ phận, sử dụng công cụ chuyên dùng thích ứng, hợp thành lao động tập thể. Phân đoạn 3: Đại công nghiệp cơ khí Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản, một cơ sở kỹ thuật tương ứng đã ra đời và phát triển, đó là máy móc, dây chuyền, thiết bị công nghiệp., đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn 18 | QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG đại công nghiệp cơ khí.
Máy móc được sử dụng phổ biến trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thông qua cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Quá trình cơ khí hóa ở một ngành dẫn đến việc thúc đẩy cơ khí hóa ở những ngành khác có liên quan. Cơ khí hóa trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hóa ngành giao thông vận tải. Cơ khí hóa bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ đến các ngành công nghiệp nặng.
Máy móc và đại công nghiệp đã thúc đẩy năng suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hóa lao động và sản xuất ngày càng cao, mở rộng thị trường, thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệp và những đô thị lớn. Trong phân đoạn này, chuyên môn hóa sản xuất không chỉ dừng lại ở từng sản phẩm riêng biệt, từng bộ phận của sản phẩm, mà đã chuyên môn hóa sâu đến từng thao tác trong chế biến sản phẩm.