CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN 1. Khái lược về thanh niên và công tác thanh niên 1. Khái lược về thanh niên 1. Khái niệm thanh niên Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội ở hiện tại và là chủ thể sáng tạo của tương lai; thanh niên có vị trí quan trọng trong suốt tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của tất cả các dân tộc và các quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, khái niệm thanh niên được định nghĩa chưa có sự thống nhất, tùy thuộc vào nội dung và góc độ tiếp cận mà người ta đưa ra các khái niệm khác nhau về thanh niên. Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 1999, định nghĩa “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [66], khái niệm này nhìn nhận thanh niên dưới hai góc độ là độ tuổi - sinh học, và sự phát triển đến một mức được cho là hoàn chỉnh, đầy đủ về mọi mặt - sự trưởng thành. Từ góc độ sinh học, thanh niên là giai đoạn được xác định khi mà quá trình phát triển của cơ thể con người đã trải qua một khoảng thời gian nhất định, ở giai đoạn này sự phát triển về mặt sinh học như tầm vóc, hệ các cơ quan bên trong và các bộ phận bên ngoài của cơ thể đã dần hoàn thiện về mặt chức năng. Độ tuổi thanh niên được quy định tùy thuộc vào quan điểm và nhận thức của mỗi quốc gia, dao động từ 12 đến 35 tuổi, khái niệm độ tuổi có thể chỉ bao hàm về mặt thời gian và mức độ phát triển sinh học của cơ thể con người hoặc phản ánh vị thế xã hội và hoạt động đặc trưng nhất định của một bộ phận con người trong xã hội; để xác định độ tuổi của một cá thể thanh niên có thể dựa vào tuổi sinh học hoặc tuổi dậy thì,.
9 Từ góc độ sự trưởng thành, thanh niên được xem là giai đoạn phát triển chuyển tiếp từ thiếu nhi sang giai đoạn hoạt động tương đối độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm. Theo đó, những cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định về mặt pháp lý tùy theo từng quốc gia, thì được coi là đã đạt tới tuổi trưởng thành về tuổi tác, nhận thức và phải chịu trách nhiệm về các hành vi của mình. Sự trưởng thành này là phép đo của sự trưởng thành về sinh lý, thể chất, cũng như trong suy nghĩ, nhận thức, tích lũy về kinh nghiệm sống và trình độ học vấn qua thời gian; khả năng giao tiếp, thấu hiểu, kết nối và duy trì các mối quan hệ xã hội, bộc lộ năng lực hoạt động trong một môi trường văn hóa, xã hội đặc thù. Mức độ trưởng thành còn thể hiện qua khả năng đóng góp cho nền kinh tế - xã hội từ góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng to lớn và nguồn bổ sung quan trọng hàng đầu cho lực lượng lao động trên tất cả các lĩnh vực, quyết định đến sự phát triển có hiệu quả của cả nền kinh tế - xã hội.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học Mác - Lênin định nghĩa con người là khái niệm chỉ những cá thể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó. Con người vừa là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người, “là thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và các yếu tố xã hội” [52, tr. Theo đó, thanh niên là một giai đoạn phát triển nhất định của cơ thể con người, mang những bản chất đặc trưng của con người, đây là một khái niệm dùng để chỉ một bộ phận người tồn tại ở một độ tuổi nhất định trong một giai đoạn xác định, một không gian nhất định của một dân tộc, một quốc gia hoặc thậm chí là quy mô của cả xã hội loài người, với những đặc điểm sinh học, tâm lý và sự phát triển nhận thức ở một trình độ nhất định. Theo cách quản lý và phân loại đối tượng thanh niên của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thanh niên Việt Nam được chia thành các nhóm sau: Thanh niên nông thôn, thanh niên công nhân; thanh niên công 10 chức và viên chức; thanh niên đô thị; thanh niên học sinh và sinh viên; thanh niên trong các lực lượng vũ trang.
Các nhóm thanh niên đặc thù bao gồm: thanh niên dân tộc thiểu số; thanh niên có đạo; thanh niên đang học tập, lao động ở nước ngoài. Các nhóm thanh niên yếu thế bao gồm: thanh niên bị nhiễm HIV/AIDS; thanh niên khuyết tật; thanh niên sau cai nghiện và sau cải tạo trở về tái hòa nhập với cộng đồng. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của BCH Trung ương Đảng Việt Nam, Khóa X khẳng định “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình.
Song, do còn trẻ, thiếu kinh nghiệm nên thanh niên cần được sự giúp đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trước và toàn xã hội. Trong quá trình xây dựng Luật Thanh niên, có rất nhiều ý kiến khác nhau của các chuyên gia và các nhà khoa học đã đưa ra bàn bạc, thảo luận để đi đến sự thống nhất về độ tuổi thanh niên Việt Nam, quy định: “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [14, Điều 1]. Từ các phân tích trên cho thấy, để nhìn nhận và đưa ra khái niệm thanh niên, cần phải đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện dưới nhiều góc độ khác nhau, từ những đặc điểm sinh học, tâm lý,. cho đến sự phát triển của nhận thức đến một mức độ nhất định; gắn thanh niên với mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội và trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội.
Với cách hiểu về thanh niên như vậy, theo tác giả thì: Thanh niên là một lực lượng xã hội đặc thù, ở độ tuổi từ đủ 16 đến 30 tuổi, mang những đặc trưng tâm sinh lý, sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ; luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình; có mặt trong tất cả các nhóm dân tộc, giai cấp, 11 tầng lớp trong xã hội và trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện tại và tương lai. Vị trí, vai trò của thanh niên Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc, là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi sự hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sự sáng tạo. Với vai trò là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện tại và tương lai, thanh niên luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nhiều bài nói và viết của mình đã luận giải một cách thuyết phục rằng: "Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà.
Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên" [63, tr. Trong giai đoạn hiện nay, khi hiểu bản chất của thanh niên thì cần hiểu là người chủ hiện tại và tương lai của đất nước, cần nhận thức cụ thể hơn theo các khung độ tuổi, các cách tiếp cận khác nhau để có chính sách bồi dưỡng, phát huy cho phù hợp. Luận điểm này được nhìn nhận và chứng minh bởi các căn cứ sau: Thứ nhất, thanh niên luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu dân số. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến năm 2018 là 26.826 người, chiếm 27,7 % dân số.
Thống kê cho thấy, số lượng thanh niên chiếm tỷ lệ gần 1/3 dân số cả nước, tạo ra nguồn lực lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Việt Nam đang ở trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, dự kiến thời kỳ này sẽ kéo dài cho đến năm 2040. Đây là cơ hội lớn để Việt Nam phát triển kinh tế - xã hội và phát huy tối đa tiềm lực của đất nước thông qua đẩy mạnh vai trò của lực lượng thanh niên, điều này càng cho thấy vị trí, vai trò của thanh niên Việt Nam, vừa là nguồn nhân lực đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, vừa là nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của đất nước. Dân số thanh niên Việt Nam Dân số cả Dân số thanh niên (người) Tỷ lệ % Năm nước trong dân (người) Tổng số Nam Nữ số cả nước 2013 89.637 27,7 (Nguồn: Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam) Thứ hai, thanh niên Việt Nam chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lực lượng lao động xã hội và lao động có tay nghề, trình độ.
Thanh niên tham gia sản xuất kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực của các thành phần kinh tế, là nguồn nhân lực dồi dào cung cấp cho nhu cầu lao động của nền kinh tế - xã hội [19]. Lao động là thanh niên trong tổng số lao động có việc làm Tổng số lao động Lao động Tỷ lệ % trong tổng Năm có việc làm là thanh niên số lao động có (nghìn người) (nghìn người) việc làm 2013 53.237 29,3 (Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam) 13 Trình độ chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ năng lao động của thanh niên ngày càng tăng. Cụ thể, trung bình mỗi năm trong giai đoạn 2013 - 2018, có khoảng trên 300 nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng bổ sung nguồn nhân lực đã qua đào tạo cho lực lượng lao động. Với một lực lượng đông đảo về số lượng và chất lượng ngày càng được nâng cao, thanh niên là nguồn lực tiềm năng to lớn của nước ta trong việc phát huy nội lực của đất nước để phát triển.