phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc về kinh tế nông nghiệp. Chƣơng 2: Hoạt động quản lý nhà nƣớc về kinh tế nông nghiệp của huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định giai đoạn 2 16 - 2020. Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về kinh tế nông nghiệp tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.
Tổng quan về kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp cấp huyện 1.1 Khái niệm kinh tế nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tƣ liệu sản xuất, những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tƣơng ứng của Nhà nƣớc đối với toàn bộ nền nông nghiệp. Nói cách khác, kinh tế nông nghiệp là tổng thể các quan hệ kinh tế trong nông nghiệp. Trong nhiều thập k trƣớc thời k đổi mới, quan điểm cơ bản về việc hình thành và phát triển kinh tế nông nghiệp ở nƣớc ta là đề cao vai trò của sở hữu Nhà nƣớc, dẫn tới thiết lập hàng loạt các xí nghiệp quốc doanh trong mọi lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, với sự tài trợ rất lớn của ngân sách Nhà nƣớc. Khu vực sản xuất thuộc các thành phần kinh tế không phải sở hữu Nhà nƣớc kể cả sở hữu hợp tác xã c ng chỉ đƣợc coi là hình thức sở hữu quá độ.
Các hình thức sở hữu tƣ nhân chƣa đƣợc thừa nhận sự tồn tại và phát triển về mặt pháp lý. Cùng với việc áp dụng cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung bao cấp, sự vận động phát triển kinh tế nông nghiệp nƣớc ta theo mô hình nêu trên tỏ ra kém hiệu quả; các tiềm năng đất đai và lao động chƣa đƣợc khai thác triệt để; vật tƣ, tiền vốn bị sử dụng lãng phí và thất thoát nhiều; đời sống nông dân và bộ mặt của nông thôn chậm đƣợc cải thiện. Đến năm 1986, nƣớc ta thực hiện đƣờng lối đổi mới, trong đó có kinh tế nông nghiệp theo cơ chế thi trƣờng định hƣớng XHCN, ngày nay là theo mô hình kinh tế thi trƣờng định hƣớng XHCN, một mô hình đang phát huy hiệu quả cao mang lại nhiều thành công cho đất nƣớc, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp. Vai trò của kinh tế nông nghiệp Vai trò ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân vô cùng quan trọng.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần và còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật. Bởi vì cơ sở để phát triển nông nghiệp là sử dụng tiền năng sinh học – cây trồng, vật nuôi. Ngành nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản, còn hiểu theo nghĩa hẹp thì chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, ngành dịch vụ, có những vai trò sau: - Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu xã h i, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nƣớc, nhất là ở các nƣớc đang phát triển. Ở những nƣớc này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông.
Ở những nƣớc có nền công nghiệp phát triển, t trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhƣng khối lƣợng nông sản khá lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ sản phẩm cần thiết là lƣơng thực, thực phẩm cho con ngƣời. Lƣơng thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, quyết định sự tồn tại phát triển của con ngƣời và kinh tế - xã hội đất nƣớc. Xã hội càng phát triển, đời sống của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao thì nhu cầu về lƣơng thực, thực phẩm c ng ngày càng tăng cả về số lƣợng, chất lƣợng và chủng loại. Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con ngƣời.
Thực tiễn đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách bền vững khi quốc gia đó đã có an ninh lƣơng thực. Một quốc gia không đảm bảo an ninh lƣơng thực thì khó ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tƣ dài hạn. - Nông nghiệp làm thị trường tiêu th của công nghiệp và dịch v , có thể nói, khu vực nông nghiệp và nông thôn là thị trƣờng tiêu thụ rộng lớn cho ngành công nghiệp. Hầu hết các nƣớc đang phát triển trên thế giới, sản phẩm 9 công nghiệp, bao gồm cả tƣ liệu tiêu dùng và tƣ liệu sản xuất đều liên quan đến nông nghiệp.
Sự thay đổi về cầu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ tác động trực tiếp, ảnh hƣởng đến sản lƣợng ở khu vực công nghiệp và phi nông nghiệp nói chung. Một quốc gia khi phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cƣ nông nghiệp, sẽ làm tăng sức mua từ khu vực nông nghiêp, nông thôn và làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển, góp phần nâng cao chất lƣợng sản phẩm của công nghiệp và cạnh tranh đƣợc với thị trƣờng thế giới. - Cung cấp yếu t đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị Thực tế cho thấy nông nghiệp không chỉ là nơi tiêu thụ mà còn là khu vực dự trữ và cung cấp lao động, cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Nhờ công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp đƣợc nâng cao giá trị, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản, mở rộng thị trƣờng và thúc đẩ xuất khẩu hàng hóa thu nhiều ngoại tệ, góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn.
Mặt khác, khu vực nông nghiệp còn là nơi cung cấp nguồn vốn lớn cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, thƣơng mại, dịch vụ, bởi vì đây là khu vực rộng lớn, xét cả về nguồn lực, lao động và sản phẩm quốc dân. Trong thời k đầu của công nghiệp hóa, nguồn vốn từ nông nghiệp là rất quan trọng. Nguồn vốn có thể đƣợc tạo ra bằng nhiều cách, nhƣ tiết kiệm của nông dân, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu đƣợc do xuất khẩu nông sản, đầu tƣ vào các hoạt động phi nông nghiệp, … nhờ đó nông nghiệp, nông thôn phát triển và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. - Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu, khi nông nghiệp thực hiện tốt chiến lƣợc phát triển sẽ đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn nhờ hoạt động xuất khẩu.
Các nhà hoạt động thực tiễn cho rằng. các loại nông, lâm thủy sản 1 phát triển đúng hƣớng, đúng tiêu chuẩn quốc tế sẽ dễ dàng gia nhập thị trƣờng thế giới, đặc biệt khi hình thành đƣợc chuỗi giá trị nông sản phạm vi khu vực hay thế giới mang lại thu nhập ngoại tệ cao. Vì vậy, ở các nƣớc đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có nhiều ngoại tệ hơn, chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản hàng hóa có chất lƣợng. Tuy nhiên thực tế cho thấy, xuất khẩu nông, lâm thu sản thƣờng bất lợi do giá cả trên thị trƣờng thế giới có xu hƣớng không ổ định, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, t giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị.
Vì vậy gần đây một số nƣớc có chiến lƣợc mới trong việc đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông, lâm, thu sản với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, chất lƣợng cao, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế toàn diện… nhờ đó đã đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nƣớc. - Nông nghiệp c vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn liền trực tiếp với môi trƣờng tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn nên có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trƣờng. Sản xuất nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất nhƣ phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh … đã làm ô nhiễm đất và nƣớc, đồng thời quá trình canh tác, sản xuất nông nghiệp dễ gây ra ảnh hƣởng xói mòn đất ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và việc khai hoang mở rộng diện tích đất rừng. Nông nghiệp vừa sử dụng tài nguyên môi trƣờng để sản xuất, nhƣng đồng thời c ng có điều kiện để gắn sản xuất với bảo vệ tài nguyên môi trƣờng.Vì vậy trong quản lý nhà nƣớc về nông nghiệp cần tìm ra chiến lƣợc, chính sách và giải pháp phù hợp để bảo vệ, duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trƣờng.
Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng và chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là: - Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn r ng lớn, ph thu c vào điều kiện tự nhiên và mang tính khu vực rõ rệt, đặc điểm này cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu rất khác nhau. Sự hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn khác nhau nên hoạt động nông nghiệp c ng khác nhau.
Thời tiết khí hậu, lƣợng mƣa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v. trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với việc sử dụng đất. Nhƣ vậy do điều kiện đất đai, khí hậu không giống nhau nên sản xuất nông nghiệp không những phụ thuộc vào tự nhiên mà còn mang tính thời vụ rõ rệt. Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế - kỹ thuật sau đây: + Nhà nƣớc tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên trên phạm vi cả nƣớc và vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp.
+ Xây dựng chiến lƣợc, quy hoạch, phƣơng hƣớng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với sản xuất nông nghiệp ở từng vùng.