phần mở đầu, mục lục, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chƣơng Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về QLNN đối với NTS. Thực trạng QLNN đối với NTS tại thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện QLNN đối với NTS tại thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGÀNH THUỶ SẢN 1. Cơ sở lý luận về ngành thuỷ sản 1.1 Khái niệm ngành thuỷ sản Thủy sản là thuật ngữ chỉ về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con ngƣời từ môi trƣờng nƣớc, đƣợc con ngƣời bảo vệ, khai thác, nuôi trồng nhằm mục đích làm thực phẩm và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác. Dựa trên hệ thống tổ chức sản xuất thì cơ cấu NTS đƣợc phân chia thành nhiều ngành chuyên môn hóa hẹp, độc lập với nhau về mặt kỹ thuật, công nghệ nhƣ: ngành NTTS, ngành khai thác, ngành chế biến và ngành dịch vụ thủy sản. Mỗi ngành này là một quá trình sản xuất riêng bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tƣơng đối khác nhau.
Theo Điều 3, Luật Thủy sản năm 2017: “Hoạt động thủy sản là hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; NTTS; khai thác thủy sản; chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản”; “Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên có giá trị kinh tế, khoa học, du lịch, giải trí” [11]. Từ những khái niệm theo quy định của Luật Thủy sản, có thể thống nhất chung một khái niệm: Thủy sản là một phân ngành hẹp của nông nghiệp, SXKD dựa trên cơ sở các nguồn lợi thủy sản, tiềm năng các vùng nước để biến chúng thành những sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của con người. Vai trò và đặc điểm ngành thuỷ sản đối với phát triển kinh tế - xã hội 1. Vai trò ngành thuỷ sản đối với phát triển kinh tế - xã hội Một là, NTS cung cấp nguyên liệu cho các ngành và sản phẩm cho tiêu dùng của dân cư NTS là một trong những ngành tạo ra thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp.
Ở tầm vĩ mô, dƣới góc độ ngành kinh tế quốc dân, NTS góp phần đảm bảo thực phẩm, đáp ứng đƣợc yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm 8 và vitamin cho thức ăn. Càng ngày thuỷ sản càng đƣợc tin tƣởng nhƣ một loại thực phẩm ít gây bệnh tật (tim mạch, béo phì, ung thƣ,…) và ít chịu ảnh hƣởng của ô nhiễm hơn. Ngoài ra, thuỷ sản là nguồn nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác. NTS cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp.
Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thuỷ sản chế biến là nguồn thức ăn giàu đạm đƣợc sử dụng làm thức ăn hoặc để chế biến thức ăn phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm. NTS cũng cung cấp nguồn nguyên liệu cho CNCB và một số ngành công nghiệp khác. Nguồn nguyên liệu cung cấp cho CNCB thực phẩm gồm tôm, cá nhuyễn thể, rong biển, … các nguyên liệu thuỷ sản còn đƣợc sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dƣợc phẩm, mỹ nghệ, … Hai là, NTS phát triển góp phần phát triển KT - XH nói chung và KT - XH nông thôn nói riêng Về mặt kinh tế, ở những địa phƣơng thuộc Duyên hải thuộc Trung bộ hoặc Tây Nam bộ, phát triển thủy sản là con đƣờng làm giàu của các chủ trang trại NTTS, các chủ tàu đánh cá. Việc nuôi thuỷ sản nƣớc lợ đã chuyển mạnh từ phƣơng thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp.
Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã hình thành, một bộ phận dân cƣ các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ NTTS. Về mặt xã hội, NTS đã đóng góp nhiều cho chƣơng trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát triển các mô hình NTTS đến cả vùng sâu, vùng xa, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc; trợ giúp cho việc xoá bỏ tập quán du canh du cƣ của đồng bào. Ba là, NTS phát triển sẽ đóng góp quan trọng trong tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp NTS là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng. Phát 9 triển mạnh NTS, đặc biệt phát triển CNCB thủy sản, sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trƣởng của ngành nông nghiệp.
Để đánh giá vai trò của các khu vực, của ngành kinh tế, ngƣời ta thƣờng sử dụng hai chỉ tiêu chủ yếu, đó là tốc độ tăng trƣởng của từng ngành, khu vực và tỷ trọng của từng ngành, từng khu vực trong toàn bộ nền kinh tế. Trong những năm qua, từ 1995 - 2020 sản lƣợng thủy sản Việt Nam tăng mạnh, tăng gấp hơn 6 lần, từ 1,3 triệu tấn năm 1995 lên 8,73 triệu tấn năm 2021, tăng trƣởng trung bình hàng năm 8%. Trong đó, sản lƣợng NTTS chiếm 54%, KTTS chiếm 46%. Bốn là, NTS góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả NTS phát triển kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hƣớng phát huy tiềm năng, hợp lý và hiệu quả.
Ở các địa phƣơng không có tiềm năng về biển, đặc biệt vùng nông thôn ngoại thành phát triển nuôi thuỷ sản là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cho hiệu quả cao. Ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng cao, phát triển chăn nuôi thuỷ sản ao, hồ, sông suối tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc; trợ giúp cho việc xoá bỏ tập quán du canh du cƣ của đồng bào. Việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thuỷ sản tại chỗ ở các vùng này còn góp phần trực tiếp cải thiện dinh dƣỡng bữa ăn, làm tăng sức khoẻ của ngƣời lớn và giảm suy dinh dƣỡng trẻ em. Ngoài ra, phát triển các trạm tàu KTTS xa bờ còn góp phần tăng cƣờng an ninh quốc phòng cho vùng biên giới biển đảo Tổ quốc.
Đối với một số vùng biển, vùng ngập nƣớc ven biển hay trong đất liền, NTS cũng góp phần vào phát triển ngành du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa. Năm là, NTS tham gia vào xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước Đối với những nƣớc có tiềm năng về thuỷ vực và nguồn lợi thuỷ sản, phát triển NTS tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có giá trị, tăng thu ngoại tệ cho đất nƣớc. Trong nhiều năm qua, NTS nƣớc ta đã từng bƣớc phát triển và có đóng góp quan trọng vào hoạt động xuất khẩu của đất nƣớc. Từ năm 1997 đến 1 năm 2021, xuất khẩu thuỷ sản tăng gấp 11 lần, tăng trƣởng trung bình hàng năm 10% từ 758 triệu USD lên 8,9 tỷ USD [25].
Nguồn: VASEP (Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam) Biểu đồ 1. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chính năm 2021 của ngành thủy sản Việt Nam Biểu đồ 1. cho thấy cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chính năm 2021 của NTS Việt Nam thì thuỷ sản nuôi để xuất khẩu chủ yếu là tôm và cá tra (tôm chiếm 44,5%, cá tra chiếm 17,7% trong tổng xuất khẩu thuỷ sản), còn lại là các mặt hàng khác nhƣ nhuyễn thể, cá ngừ, cá khác… Việt Nam xuất khẩu thuỷ sản sang hơn 160 thị trƣờng trên thế giới. Trong đó top 10 thị trƣờng gồm; Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Australia, Canada, Nga, chiếm khoảng 92 - 93% tổng XK thuỷ sản của Việt Nam.
Trong bảng xếp hạng 6 thị trƣờng lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và ASEAN), trong những năm gần đây, xuất khẩu sang EU chững lại, sang ASEAN, Hàn Quốc ổn định, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng trƣởng mạnh nhất, xuất khẩu sang Mỹ và Nhật Bản cũng duy trì tăng trƣởng khả quan. 1 Sáu là, NTS phát triển sẽ phát triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc NTS còn đóng vai trò trong phát triển kinh tế biển. Phát triển kinh tế biển, mở rộng phạm vi hoạt động kinh tế trên vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của nƣớc ta là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để vừa khai thác nguồn lợi biển vừa khẳng định chủ quyền và nâng cao khả năng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải. Nhận thức r vị trí chiến lƣợc của biển và vai trò quan trọng của NTS đối với sự nghiệp phát triển kinh tế biển, những năm qua, NTS đã từng bƣớc vƣợt qua khó khăn, thách thức, bền bỉ phấn đấu, phát triển từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ, vƣơn lên trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đạt tốc độ tăng trƣởng cao nhất trong khối nông, lâm, thủy sản.
NTS là một ngành kinh tế quốc dân quan trọng, hoạt động trải rộng trên khắp các vùng biển và ven biển của Tổ quốc, luôn có quan hệ mật thiết với vấn đề bảo vệ nguồn lợi biển, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên hƣớng biển, nên sự phát triển của NTS luôn gắn bó hữu cơ với việc xây dựng tiềm lực quốc phòng - an ninh, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trên từng vùng biển, ven biển, hải đảo và của cả nƣớc. Sự kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng cƣờng quốc phòng an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc đƣợc thể hiện rõ trong các quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành, nhất là trong đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá, phát triển các đội tàu, thuyền đánh bắt hải sản của các doanh nghiệp và các hợp tác xã nghề cá; trong nghiên cứu khoa học sông, biển, hải đảo và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên các vùng biển, hải đảo và ven biển. Sự kết hợp kinh tế biển với an ninh quốc phòng còn đƣợc thể hiện cụ thể trong các hoạt động kiểm tra, giám sát, thực thi pháp luật và giữ gìn an ninh, trật tự trên biển. Đặc điểm ngành thuỷ sản NTS là một phân ngành của nông nghiệp, bởi vì NTS có những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp nói chung.
Tƣ liệu sản xuất chủ yếu của NTS là mặt nƣớc; đối tƣợng lao động là những sinh vật thủy sinh; kết quả sản xuất của ngành là những sản phẩm sinh vật, những kết quả sinh học.