Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN – PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG 1. Khái quát chung về công chứng và tổ chức hành nghề công chứng 1. Khái niệm công chứng và tổ chức hành nghề công chứng Khái niệm công chứng Nguồn gốc của hoạt động công chứng có từ thời Ai Cập cổ đại, thời đại mà việc “chính thức hóa” các văn bản ghi chép trở nên quan trọng với nhân loại lúc bấy giờ. Ở Ai Cập cổ đại vào năm 2750-2250 trước Công nguyên, người Ai Cập cổ đại “sesh” hay người chép sách ở Vương quốc cổ Ai Cập được biết đến là những người chép biên niên sử đầu tiên được lịch sử ghi lại.
Những người chép sách góp phần tạo nên một cấp độ của bộ máy quan liêu thời Ai Cập cổ đại. Từ thư cá nhân cho đến các tuyên bố chính thức, hồ sơ thuế và các tài liệu khác đều qua tay họ. Nguồn gốc của thuật ngữ “notary” (công chứng viên) trong Tiếng Anh bắt nguồn từ thuật ngữ “notarius”.Thời La Mã cổ đại, trước năm 535 TCN, những ông tổ thực sự của các công chứng viên được sinh ra ở Đế chế La Mã.Nhiều người cho rằng Công chứng viên đầu tiên trong lịch sử là một người nô lệ La Mã tên là Tiro. Ông đã phát minh ra một hệ thống viết tốc ký, mà ông gọi là notae nhằm để ghi chép lại bài phát biểu của nhà hùng biện nổi tiếng lúc bấy giờ Cicero.
Những người viết tốc ký khác được biết đến với cái tên notarii và scribae. Thời bấy giờ, việc biết đọc biết viết không được phổ biến rộng rãi, các công chứng viên hay còn gọi là các “notarius” là người soạn hợp đồng, di chúc hoặc các loại tài liệu quan trọng khác có tính phí. Với sự phát triển của đế chế La Mã, tỷ lệ biết chữ tăng lên, nhu cầu về công chứng viên cũng tăng lên. Sau này, vào thế kỷ XV, một công chứng viên đã đồng hành cùng Christopher Columbus trong chuyến hải trình của ông ấy để đảm bảo vua Ferdinand và hoàng hậu Isabella rằng tất cả những phát hiện đều được công chứng ghi chép đầy đủ.
Công chứng viên được xem là một công chức được ủy quyền công khai để phục vụ như một người vô tư, không thiên vị làm chứng cho việc ký kết giấy tờ pháp lý. Việc ký kết hợp đồng này thường bao gồm chứng thư chuyển nhượng bất động sản, bản khai có tuyên thệ, di chúc, văn bản ủy quyền. Mục đích chính của công chứng viên là để ngăn 8 luan an cản sự gian lận. Công chứng viên không được từ chối làm chứng một văn bản dựa vào chủng tộc, quốc gia, vùng miền hay giới tính [56].
Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Trong khi đó,“chứng thực” là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính, hoặc chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực. Công chứng viên đóng vai trò là một nhân chứng vô tư, không vụ lợi xác nhận danh tính của người ký vào văn bản [54, tr. Từ điển Hán-Việt (của tác giả Đào Duy Anh), Nxb.
Khoa học và Xã hội ấn hành năm 2004, đưa ra định nghĩa về công chứng như sau: “Công chứng có nghĩa là lấy quyền công mà làm chứng”. Theo từ điển Black’s Law Dictionary 8th định nghĩa công chứng viên là người được nhà nước trao quyền để quản lý thi hành việc tuyên thệ, chứng nhận văn bản, chứng thực tính xác thực của chữ ký và chính thức hóa các hành vi trong lĩnh vực thương mại như xác nhận công cụ chuyển nhượng “negotiable instruments”. Trong Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Điều 1 xác định: “Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”.
Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, khái niệm công chứng được nêu tại Điều 1: “Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu”. 9 luan an Sau 5 năm, khái niệm “công chứng” được sửa đổi theo Nghị định số 75/2000/NĐ- CP ngày 08/12/2001 của Chính phủ về công chứng, chứng thực Khoản 1, Điều 2 ghi rõ: “Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này; Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này”. Theo Điều 2 Luật Công chứng 2006: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức HNCC chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Như vậy từ những khái niệm nêu trên có thể kết luận, công chứng là việc công chứng viên thực hiện quyền mà nhà nước trao cho để chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của hợp đồng giao dịch. Khái niệm tổ chức hành nghề công chứng: Vào thời kỳ đầu của hoạt động công chứng, Nhà nước ta không thành lập cơ quan công chứng chuyên trách. Mọi động có tính chất công chứng đều do Ủy ban nhân dân cấp cơ sở thực hiện theo hình thức thị thực, chứng thực trên cơ sở Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 ấn định Thể lệ về việc thị thực các giấy tờ và Sắc lệnh số 85/SL ngày 29/02/1952 về Thể lệ trước bạ về các việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất [25, tr.
Sự ra đời của thông tư số 574/QLTPK hướng dẫn công tác công chứng Nhà nước ngày 10/07/1987 do Bộ Tư pháp ban hành, Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng và Nghị định số 45/CP về 10 luan an tổ chức và hoạt động của Công chứng nhà nước ngày 27/02/1991 do Chính phủ ban hành là bước khởi đầu cho quá trình hình thành và hoạt động của các phòng công chứng trên cả nước. Lúc bấy giờ tổ chức HNCC là cơ quan nhà nước hoạt động với mục đích giúp các cá nhân, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa và làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Trải qua giai đoạn phát triển của lịch sử, từ việc ghi nhận văn bản pháp luật đầu tiên quy định về tổ chức hoạt động công chứng ở Việt Nam trong Nghị định số 45/HĐBT, đến việc ghi nhận sự thay đổi trong thuật ngữ “phòng công chứng nhà nước” và “phòng công chứng” đánh dấu quá trình xã hội hóa công chứng trong Nghị định số 75/2000/NĐ-CP. Theo định nghĩa về công chứng trong Nghị định này, có thể rút ra được định nghĩa tổ chức HNCC là nơi thực hiện việc chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác.
Luật công chứng năm 2006 đánh dấu một dấu mốc quan trọng với sự xuất hiện của tổ chức công chứng của tư nhân là VPCC. Sự ra đời của VPCC là kết quả của quá trình thay đổi về tư duy và nhận thức về nền kinh tế thị trường của Đảng và nhà nước Việt Nam, từ chỗ hoạt động công chứng chỉ do nhà nước độc quyền thực hiện cho tới việc chuyển giao quyền nay cho tổ chức tư nhân thay mặt nhà nước cung cấp dịch vụ công. Như vậy, tổ chức HNCC hiện nay không phải là cơ quan nhà nước, mà nó tồn tại hai loại hình: là đơn vị sự nghiệp công lập đối với Phòng công chứng, và là công ty hợp danh đối với VPCC. Tuy được xây dựng thành hai loại hình khác nhau, pháp luật vẫn xây dựng quy định chung về quyền và nghĩa vụ cho các tổ chức HNCC này, mà không có sự phân biệt giữa nhà nước và tư nhân.
Như vậy, tổ chức HNCC là nơi chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng. bao gồm Phòng công chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Đặc điểm, nguyên tắc của hoạt động công chứng 11 luan an Công chứng là hành động xác thực, là đặc điểm của hệ thống công chứng dân luật. Nó phản ánh trung thực ý chí của các bên.
Hoạt động này yêu cầu một vài yếu tố cần thiết như sau: - Hoạt động công chứng phải tuân thủ pháp luật.