phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng. 6 Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc đối với giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm việc làm và tạo việc làm 1.
Khái niệm việc làm Theo điều 9, Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm, Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà ngƣời lao động mới thực hiện đƣợc quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
Nhƣ vậy, một hoạt động đƣợc coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: đó là những công việc mà ngƣời lao động nhận đƣợc tiền công, đó là những công việc mà ngƣời lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải đƣợc pháp luật thừa nhận. Trên thực tế, việc làm đƣợc thừa nhận dƣới 3 hình thức: Làm công việc để nhận đƣợc tiền lƣơng, tiền công hoặc hiện vật, cho công việc đó. Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tƣ liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó.
Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ 8 hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu, quản lý. Việc làm của thanh niên nông thôn có những đặc điểm sau: Việc làm ở nông thôn: Việc làm của ngƣời lao động ở nông thôn gắn liền với đặc điểm của kinh tế nông nghiệp, nông thôn, với lực lƣợng lao động và điều kiện tự nhiên tại chỗ, bao hàm tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT-XH ở nông thôn để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm; đƣợc thể hiện là những ngành nông, lâm, thủy sản - những loại việc làm có thể khai thác tài nguyên thiên nhiên tại chỗ. Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, việc làm của ngƣời lao động ở nông thôn mang tính thủ công, nặng nhọc và có thu nhập thấp. Khi kinh tế nông thôn vẫn chủ yếu là nông nghiệp, ở đó ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm.
Vì vậy, đa dạng hóa ngành nghề, mở nhiều loại hình việc làm, phát triển KT - XH ở nông thôn là phƣơng hƣớng chủ yếu giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn. Nhƣ vậy, trong quá trình CNH, HĐH, ngƣời lao động làm trong lĩnh vực thuần nông là những ngƣời có nguy cơ bị thiếu việc làm và bị thất nghiệp cao nhất. Việc làm phi nông nghiệp là lĩnh vực rộng lớn, gồm tất cả các ngành nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn. Cùng với sự hình thành và phát triển của cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc các loại ngành nghề ở nông thôn phát triển đã tạo nên sự phong phú, đa dạng về việc làm cho ngƣời lao động ở đây.
Đặc biệt cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, dịch vụ ở nông thôn cũng phát triển mạnh mẽ. Nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đời sống trƣớc đây chỉ có ở thành thị thì nay đã có ở nông thôn nhƣ: dịch vụ vệ sinh nông thôn, dịch vụ cung cấp nƣớc sạch, vệ sinh dịch vụ ăn uống. Nhiều việc làm trƣớc đây bị xã hội coi rẻ và cấm đoán nhƣ: giúp việc gia đình, chạy chợ. thì nay đã đƣợc công nhận nhƣ một nghề.
Tất cả những biến đổi đó đã tạo ra nhiều loại hình công việc làm phong phú, đa dạng thị trƣờng việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn. Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn có vai trò 9 tích cực trong phát triển KT - XH ở nông thôn: Phát triển ngành nghề ngoài việc đem lại việc làm ổn định, thƣờng xuyên cho ngƣời lao động ở lĩnh vực đó, còn khả năng thu hút thêm lao động nhàn rỗi ở nông thôn. Ngoài sự phát triển của nó còn nảy sinh những ngành nghề mới, những hoạt động dịch vụ liên quan tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho lao động. Tóm lại: việc làm và các loại việc làm của thanh niên nông thôn nƣớc ta đều có đặc điểm chung của ngƣời lao động ở nông thôn làm việc theo mùa vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản, trồng rừng làm những ngành nghề truyền thống của làng quê Việt Nam.
Do làm theo mùa vụ và nhiều vùng quê đất chật ngƣời đông, ở nông thôn năng suất lao động và thu nhập thấp, việc làm và các loại việc làm của ngƣời lao động ở nông thôn thuần nông, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm không qua đào tạo là phổ biến. Thế hệ thanh niên nông thôn ngày nay, với những tác động tích cực của nhiều nhân tố khách quan, (KT - XH phát triển, quá trình CNH, HĐH, phát triển của giáo dục đào tạo…), trình độ học vấn, nhận thức, tính tự chủ và khát vọng vƣơn lên làm giàu của thanh niên nông thôn đƣợc nâng lên, chủ động tổ chức tự tạo ra việc làm cho mình và nhiều ngƣời khác nhƣ; tổ chức làm trang trại, phát triển nghề truyền thống và các dịch vụ khác… thể hiện đƣợc tính năng động, sáng tạo. Đây là một nét tích cực, nổi bật của thế hệ thanh niên nông thôn hiện nay. Khái niệm tạo việc làm “Tạo việc làm là quá trình đƣa ngƣời lao động vào làm việc, tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tƣ liệu sản xuất và sức lao động”, tạo việc làm có thể đƣợc hiểu theo hai khía cạnh khác nhau: Tạo việc làm theo nghĩa rộng: Tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển nguồn nhân lực.
Nghĩa là quá trình diễn ra từ vấn đề giáo dục đào tạo và phổ cập nghề nghiệp để chuẩn bị cho ngƣời lao động, đến vấn đề tự do lao động và hƣởng thụ xứng đáng với giá trị mà lao động của họ tạo ra, cải thiện và nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Theo nghĩa này, vấn đề tạo 10 việc làm gắn liền và đƣợc thực hiện thông qua các chính sách và các chƣơng trình phát triển kinh tế chung cua Đảng và Nhà nƣớc. Không những thế, nó còn gắn liền với vấn đề phát triển giáo dục, đào tạo nghề cho ngƣời lao động nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, cùng với việc sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý để hƣớng vào mục tiêu tăng trƣởng kinh tế. Nội dung tạo việc làm theo nghĩa rộng mang ý nghĩa kinh tế là chủ yếu, cho nên công nghệ đƣợc lựa chọn ở đây là công nghệ mũi nhọn, sử dụng lao động có trình độ kĩ thuật cao nhằm đảm bảo tốc độ tăng trƣởng k inh tế ở mức độ cao.
Tạo việc làm theo nghĩa hẹp: Tạo việc làm chủ yếu hƣớng vào đối tƣợng thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chƣa có việc làm nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập và giảm tỉ lệ thất nghiệp. Nghĩa là nội dung tạo việc làm chỉ hạn chế trong khuôn khổ và nội dung các chính sách xã hội cụ thể của Nhà nƣớc, tạo việc làm cho ngƣời lao động còn mang tính xã hội hóa, coi tự tạo việc làm và chủ động tìm kiếm việc làm là hƣớng quan trọng kết hợp với các chính sách của Nhà nƣớc, chống ỷ lại vào Nhà nƣớc. Qua hai khái niệm trên ta thấy đƣợc tạo việc làm mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, có mục tiêu hƣớng vào sử dụng lao động chống thất nghiệp và tình trạng thiếu việc làm, đảm bảo tăng thu nhập. Khái niệm tạo việc làm theo nghĩa rộng và tạo việc làm theo nghĩa hẹp tuy có sự khác nhau, song chúng có mối quan hệ đan xen, bổ sung cho nhau và đều hƣớng đến mục tiêu sử dụng, phát huy tối đa tiềm năng lao động của xã hội.
Thị trƣờng lao động việc làm chỉ có thể đƣợc hình thành khi ngƣời lao động có nhu cầu việc làm và ngƣời sử dụng lao động có nhu cầu sử dụng lao động. Họ gặp gỡ, thỏa thuận với nhau nhƣng mỗi ngƣời hoạt động là để đạt mục đích riêng của họ. Khái niệm thanh niên và thanh niên nông thôn 1. Khái niệm thanh niên Thanh niên là lực lƣợng xã hội to lớn, là nguồn thúc đẩy sự phát triển xã hội hiện tại và là ngƣời chủ tƣơng lai của đất nƣớc.
Khái niệm Thanh niên 11 đƣợc sử dụng thƣờng xuyên rộng rãi hàng ngày cũng nhƣ trong các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn. Theo Luật Thanh niên năm 2005 quy định: Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mƣời sáu tuổi đến ba mƣơi tuổi. Thanh niên là khái niệm dùng để chi một nhóm nhân khẩu - xã hội với một độ tuổi xác định, với những tâm sinh lý đặc thù và có một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thanh niên là lứa tuổi đã trƣởng thành, có đầy đủ tố chất của ngƣời lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực, do đó thanh niên có đầy đủ những điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học lập, lao động, hoạt động chính trị - xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho công cuộc đổi mới đất nƣớc [42].
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thanh niên: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc: Dân tộc bị nô lệ thì Thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc đƣợc giải phóng, Thanh niên mới đƣợc tự do. Vì vậy Thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc”.