Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý xây dựng (mã số 9580302) của nghiên cứu sinh Phạm Quốc Trường, thực hiện tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Đăng Quang vào năm 2022, có tiêu đề: "Quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức đối tác công tư tại Việt Nam".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án nêu rõ việc đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật vốn chủ yếu do khu vực công đảm nhiệm thông qua ngân sách nhà nước hoặc nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Tuy nhiên, nguồn ngân sách quốc gia không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn đầu tư trong cùng một thời điểm, đặt ra yêu cầu phải áp dụng phương thức đối tác công tư (PPP). Mặc dù phương thức này đã được hình thành tại Việt Nam từ năm 1993, việc triển khai trong thực tế bộc lộ nhiều điểm bất cập. Cụ thể, dự án thí điểm cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết không thực hiện thành công; công tác quyết toán tại nhiều dự án BOT giao thông phát sinh chênh lệch lớn so với dự toán ban đầu, điển hình là việc Kiểm toán Nhà nước từng kiến nghị giảm thời gian thu phí hoàn vốn của 40 dự án với tổng thời gian 120 năm và giảm trừ giá trị đầu tư. Nhiều dự án có lưu lượng khai thác thực tế thấp hơn nhiều so với dự báo, làm mất khả năng hoàn vốn của nhà đầu tư. Các hạn chế cốt lõi được tác giả chỉ ra bao gồm sự thiếu hụt quy hoạch tổng thể dài hạn, hành lang pháp lý chưa đồng bộ, năng lực cán bộ quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu và cơ chế phân chia rủi ro chưa rõ ràng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng luận cứ khoa học để đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD) theo phương thức PPP tại Việt Nam, đồng thời xác định các tiêu chí đánh giá hoạt động này của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được tác giả phân định thành 4 nội dung:

  • a) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thành công của dự án ĐTXD theo phương thức PPP tại một số nước phát triển và đang phát triển nhằm tham khảo, vận dụng mô hình QLNN phù hợp với điều kiện Việt Nam.
  • b) Hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP.
  • c) Đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong QLNN đối với các dự án ĐTXD theo phương thức PPP thời gian vừa qua ở Việt Nam.
  • d) Đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, bao gồm thể chế chính sách, pháp luật, phương pháp, công cụ quản lý, mô hình tổ chức bộ máy, năng lực nhân sự và công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát.
  • Phạm vi nội dung: Quản lý nhà nước đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP, tập trung khảo sát các nhân tố ảnh hưởng theo chu trình quản lý, thực thi pháp luật, bộ máy tổ chức, giám sát và đánh giá dự án.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào các dự án ĐTXD trong hai lĩnh vực giao thông đường bộ và năng lượng trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Hệ thống hóa quá trình hình thành cơ chế PPP từ năm 1993 đến năm 2020; trọng tâm phân tích sâu các nội dung QLNN giai đoạn 2014–2020 gắn với các luật chuyên ngành và các Nghị định hướng dẫn có hiệu lực trước khi Luật PPP năm 2020 đi vào thực thi từ năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo từng nhóm nội dung quản lý:

Về các nghiên cứu trong nước:

  • Khung pháp lý và thể chế: Báo cáo nghiên cứu RS-09 của Mai Thị Thu và cộng sự (2014) chỉ ra các bất cập về công bố danh mục dự án, năng lực nhà đầu tư, phê duyệt tổng mức đầu tư và đề cập đến loại hợp đồng DBFO; đề tài của Vụ Pháp chế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011) về khung pháp lý hợp tác công tư; Đinh Sơn Tùng và Trần Gia Trung Đỉnh (2007) về sự thiếu hụt vốn và hành lang pháp lý; Nhữ Trọng Bách (2014) về rủi ro từ sự thay đổi thể chế; Đặng Thị Hà (2013) về huy động vốn ngoài ngân sách cho đường cao tốc; Nguyễn Thị Bình (2013) phân loại 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với ĐTXD; Nguyễn Xuân Phúc (2012) về năng lực thể chế và tính minh bạch của bộ máy nhà nước.
  • Quy hoạch và phát triển dự án: Nghiên cứu của Bùi Thị Hoàng Lan và cộng sự (2010) chỉ ra xung đột quy hoạch giữa cải tạo Quốc lộ 20 theo hợp đồng BT/BOT với tuyến cao tốc song song được quy hoạch đồng thời; Nguyễn Thị Hồng Minh (2016) về hoạch định và giám sát PPP giao thông đường bộ; Ngô Thế Vinh (2015) về áp dụng PPP cho công trình đường bộ tại Hà Nội; Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2013) và Nguyễn Thu Thủy (2016) phân tích sâu về chất lượng quy hoạch, bộ máy quản lý và cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính, đất đai.
  • Rủi ro và quản trị rủi ro: Đề tài cấp Bộ của Lê Hương Linh và cộng sự (2017) nhận diện rủi ro QLNN qua 11 giai đoạn chu trình dự án BOT đường bộ; Huỳnh Thị Thúy Giang (2012) xây dựng tiêu chí lựa chọn hợp đồng PPP đường bộ; Nguyễn Đức Cảnh (2017) nghiên cứu điều kiện thành công và chia sẻ rủi ro trong ngành nước; Đào Việt Dũng (2017) phân loại rủi ro chính sách, tài chính và nguyên tắc phân bổ rủi ro; Phan Thị Bích Nguyệt (2013) xác định 5 nhân tố tác động tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Bộ máy quản lý, năng lực cán bộ và giám sát: Đinh Kiện (2010), Mai Thị Thu và cộng sự (2013), Nguyễn Thị Kim Dung (2008), Phạm Diễm Hằng (2019), Đỗ Văn Thuận (2019), Hoàng Cao Liêm (2019), Tạ Văn Khoái (2009), Đoàn Thị Hải Yến (2020) và Đề án của Bộ Giao thông Vận tải (2016) đều tập trung chỉ rõ năng lực cán bộ kiêm nhiệm còn hạn chế, thiếu tổ chức đầu mối chuyên trách và công tác thanh tra, kiểm toán còn mang tính hình thức.

Về các nghiên cứu nước ngoài:

  • Cuttaree (2008, 2011) xác định các nhân tố thành công tại Chile và Mexico; tài liệu hướng dẫn của World Bank, ADB và IDB (2014) cùng UNESCAP (2011) chuẩn hóa các nguyên tắc thể chế và quản lý vòng đời dự án PPP; Sader (2000) nghiên cứu rào cản thu hút FDI vào cơ sở hạ tầng; Koch (2006, 2013) về năng lực quản lý và giá trị tiền tệ (VfM); Omoregie và cộng sự (2019) lượng hóa 19 nguyên nhân thất bại của dự án PPP tại Nigeria. Tác giả cũng tổng hợp các nghiên cứu xác định nhân tố thành công của Qiao và cộng sự (2001) tại Trung Quốc; Akintoye và cộng sự (2003), Hardcastle và cộng sự (2005) tại Anh; Roshana Takim và cộng sự (2008) tại Malaysia; Mohammad Mustajab (2009) tại Indonesia; Garvin (2009) tại Hoa Kỳ; Henry Alinaitwe (2011) tại Uganda; ADB (2012), Fahyre Loiola (2013) tại Brazil; Steven McCam (2014) tại Australia và Trần Thị Trúc Liễu (2016).
TT Nghiên cứu tiêu biểu Trọng tâm nội dung và kết quả ghi nhận trong luận án
01 Omoregie và cộng sự (2019) Xác định 19 nhân tố gây thất bại dự án PPP: Tham nhũng (87%, thứ tự 1), Tài chính không đầy đủ (85%, thứ tự 2), Thiếu chia sẻ rủi ro (82%, thứ tự 3), Cạnh tranh không bình đẳng (80%, thứ tự 4), Minh bạch và liêm chính kém (77%, thứ tự 5).
02 Mai Thị Thu và cộng sự (2014) Báo cáo RS-09 chỉ ra lỗ hổng pháp lý hợp đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp làm tăng chi phí lãi vay; bổ sung mô hình hợp đồng Thiết kế - Xây dựng - Tài trợ - Vận hành (DBFO).
03 Lê Hương Linh và cộng sự (2017) Phân tích rủi ro trong quản lý nhà nước đối với dự án BOT đường bộ qua 11 giai đoạn chu trình dự án, đề xuất 8 định hướng giảm thiểu rủi ro.
04 Đoàn Thị Hải Yến (2020) Chỉ ra bất cập trong quy định pháp luật về thủ tục lựa chọn nhà đầu tư, cơ chế chia sẻ rủi ro, kiểm tra giám sát và quyết toán công trình PPP.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định gồm ba khía cạnh: (1) Phần lớn công trình trước đây chỉ tập trung vào giai đoạn chuẩn bị đầu tư trước xây dựng, ít đi sâu vào giai đoạn thi công và khai thác vận hành dưới góc độ QLNN xuyên suốt vòng đời dự án; (2) Chưa làm rõ các yếu tố tác động bên ngoài như phản ứng xã hội của người thụ hưởng, áp lực tiến độ từ lãnh đạo và sự thiếu liên kết giữa các cơ quan ban ngành; (3) Thiếu một hệ thống tiêu chí định lượng và định tính thống nhất để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tự đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích: Luận án tiếp cận nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặt hoạt động QLNN trong mối quan hệ vận động cùng sự phát triển kinh tế - xã hội. Khung lý thuyết của luận án xác định mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố ảnh hưởng (chủ quan và khách quan) đến các nội dung QLNN (khung pháp luật, tổ chức bộ máy, giám sát kiểm tra, xử lý vi phạm, hòa giải tranh chấp), nhằm hướng tới 4 tiêu chí đánh giá hoạt động QLNN bao gồm: Tính hiệu lực, tính hiệu quả, tính bền vững và tính khả thi.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án:

  • (i) Nội dung QLNN trong dự án ĐTXD theo phương thức PPP là gì? Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN ra sao?
  • (ii) Hoạt động QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP tại Việt Nam thời gian vừa qua như thế nào?
  • (iii) Cần phải làm gì để công tác QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP đạt được hiệu lực và hiệu quả?

Các giả thuyết nghiên cứu được thiết lập:

  • Về công cụ QLNN: Giả thuyết 1: Cần hoàn thiện chính sách và pháp luật về PPP; Giả thuyết 2: Cần xây dựng chiến lược tổng thể quốc gia về PPP; Giả thuyết 3: Cần xác lập bộ tiêu chí đánh giá dự án ĐTXD theo phương thức PPP theo từng giai đoạn.
  • Về phương pháp QLNN: Giả thuyết 1: Cần hoàn thiện mô hình bộ máy QLNN về PPP; Giả thuyết 2: Tăng cường phân cấp thẩm quyền quyết định dự án; Giả thuyết 3: Thiết lập cơ chế hỗ trợ của Nhà nước trong các giai đoạn; Giả thuyết 4: Công khai minh bạch thông tin dự án qua cổng thông tin điện tử quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp:

  • Nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp, văn bản quy phạm pháp luật (các Luật Đấu thầu, Xây dựng, Đầu tư công và các Nghị định 87/CP, 62/1998/NĐ-CP, 108/2009/NĐ-CP, 15/2015/NĐ-CP, 63/2018/NĐ-CP, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020). Phương pháp lịch sử và so sánh quốc tế được dùng để đúc rút kinh nghiệm tổ chức bộ máy và quản trị rủi ro từ các nước (Hàn Quốc, Chile, Anh, Mexico).
  • Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra bảng hỏi khảo sát gồm 5 nhóm nội dung (80 vấn đề quan sát, 25 biến độc lập).

Cỡ mẫu tối thiểu được xác định dựa trên hai tiêu chuẩn:

  • Tiêu chuẩn phân tích nhân tố khám phá EFA theo Hair và cộng sự (2006): $N_{EFA} = 5 \times m$ (với $m$ là số biến quan sát). Trong các nhóm vấn đề, nhóm có số biến quan sát lớn nhất là $m = 22$, do đó $N_{EFA} = 5 \times 22 = 110$.
  • Tiêu chuẩn hồi quy đa biến theo Tabachnick và Fidell (2007): $N = 50 + 8 \times var$ (với $var$ là số biến độc lập đưa vào mô hình). Nhóm có số biến độc lập lớn nhất là $var = 6$, suy ra $N = 50 + 8 \times 6 = 98$.

Tác giả chọn kích thước mẫu tối thiểu yêu cầu là giá trị lớn nhất: $N = 110$. Tổng số phiếu phát ra là 150 phiếu, số phiếu thu về hợp lệ đạt 112 phiếu, đáp ứng điều kiện kiểm định thống kê. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS thông qua các bước: mã hóa số liệu, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) với kiểm định chỉ số KMO, phân tích tương quan tuyến tính Pearson và phân tích hồi quy đa biến.

Đối tượng tham gia khảo sát Tỷ lệ theo độ tuổi $\le 40$ Tỷ lệ theo độ tuổi $> 40$ Trình độ Đại học Trình độ Trên đại học Tổng cộng
Sở Kế hoạch và Đầu tư 1,0% 4,0% 3,0% 2,0% 5,0%
Sở Giao thông Vận tải 15,0% 19,0% 24,0% 10,0% 34,0%
Các Ban Quản lý dự án 15,0% 22,0% 33,0% 4,0% 37,0%
Khu Quản lý giao thông 12,5% 11,0% 15,0% 8,0% 23,5%
Đối tượng khác 1,0% 0,0% 1,0% 0,0% 1,0%
Tổng số toàn bộ mẫu 43,5% 56,5% 75,0% 25,0% 100,0%

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức đối tác công tư

Chương 1 thực hiện tổng lược các công trình khoa học trong và ngoài nước, làm rõ lịch sử nghiên cứu về thể chế, mô hình bộ máy, cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính và hoạt động thanh tra, kiểm tra dự án PPP. Tác giả tổng hợp các dạng hợp đồng cơ bản (BOT, BTO, BT, BOO, BTL, BLT, O&M) và mô hình DBFO; phân tích các số liệu thực tế về thất bại dự án tại các quốc gia đang phát triển và chỉ ra 9 nhóm hạn chế cốt lõi trong nước (Bảng 1.5). Trên cơ sở xác định khoảng trống khoa học, chương này thiết lập khung lý thuyết (Hình 1.1), sơ đồ quy trình nghiên cứu (Hình 1.2), xác định hệ thống câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS thông qua việc tính toán kích thước mẫu chuẩn hóa ($N_{EFA}=110$, mẫu thu thập thực tế $N=112$).

Chương 2: Cơ sở lý luận, pháp lý về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức đối tác công tư

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm khoa học về dự án ĐTXD theo phương thức PPP, phân định rõ phạm vi giữa quản lý nhà nước đối với dự án PPP, công tác quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng và hoạt động quản lý dự án nội bộ của doanh nghiệp dự án (Bảng 2.3). Tác giả phân tích các chức năng QLNN theo chu trình dự án gồm: lập quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, đàm phán hợp đồng, thi công xây dựng và khai thác vận hành.

Nội dung trọng tâm của chương là xác lập hệ thống 4 tiêu chí đánh giá hoạt động QLNN đối với dự án PPP:

  • Tính hiệu lực: Mức độ tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn, tiến độ, chất lượng công trình và sự nghiêm minh của pháp luật.
  • Tính hiệu quả: Mức độ tối ưu hóa chi phí đầu tư, tiết kiệm nguồn vốn ngân sách, phân bổ rủi ro tài chính hợp lý và chất lượng dịch vụ công cung cấp cho xã hội.
  • Tính bền vững: Sự ổn định của môi trường thể chế, bảo đảm cân bằng lợi ích lâu dài giữa Nhà nước - tư nhân - người dân, bảo vệ tài nguyên và giảm thiểu tác động môi trường.
  • Tính khả thi: Mức độ phù hợp của chính sách với thực tiễn thị trường, tính sẵn sàng của hệ thống ngân hàng thương mại và năng lực triển khai của bộ máy quản lý.

Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm quản lý quốc tế, đặc biệt là cơ chế thành lập cơ quan chuyên trách như Trung tâm Quản lý Đầu tư PPP (PIMAC) tại Hàn Quốc, các quỹ phát triển dự án và nguyên tắc chia sẻ rủi ro doanh thu tối thiểu tại Chile và Mexico để rút ra bài học cho Việt Nam.

Chương 3: Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức đối tác công tư tại Việt Nam

Chương 3 tái hiện bức tranh thực trạng thể chế và hoạt động quản lý dự án PPP tại Việt Nam qua 3 giai đoạn tiến hóa pháp lý:

  • Giai đoạn 1993–1997: Khởi đầu với Nghị định số 87/CP (năm 1993) ban hành quy chế hợp đồng BOT áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài, sau đó mở rộng sang nhà đầu tư trong nước qua Nghị định số 77/CP (năm 1997).
  • Giai đoạn 1998–2011: Khung pháp lý bổ sung thêm loại hợp đồng BTO và BT theo Nghị định số 62/1998/NĐ-CP, Nghị định số 108/2009/NĐ-CP và Quyết định thí điểm số 71/2010/QĐ-TTg.
  • Giai đoạn 2012–2020: Hoàn thiện thể chế với Nghị định số 15/2015/NĐ-CP, Nghị định số 63/2018/NĐ-CP và đỉnh cao là việc Quốc hội ban hành Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021).

Tác giả phân tích các mặt thực trạng quản lý: quy hoạch dự án còn manh mún, thiếu liên kết vùng; tỷ lệ áp dụng chỉ định thầu còn cao; công tác lập, thẩm định tổng mức đầu tư thiếu chính xác; cơ chế quản lý hợp đồng lỏng lẻo. Bộ máy QLNN phân tán tại nhiều Bộ ngành và địa phương, cán bộ phần lớn làm việc kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn sâu về pháp lý và tài chính dự án. Dẫn chứng thực tế cho thấy Kiểm toán Nhà nước đã rà soát và yêu cầu giảm thời gian thu phí hoàn vốn của 40 dự án BOT giao thông là 120 năm, giảm trừ hàng nghìn tỷ đồng dự toán sai lệch.

Thông qua kết quả xử lý dữ liệu điều tra 112 mẫu trên SPSS, tác giả kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực QLNN, chứng minh rằng sự bất cập về khung chính sách, thiếu hụt cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính và hạn chế về năng lực của bộ máy quản lý là những rào cản ảnh hưởng tiêu cực nhất đến tính hiệu lực và hiệu quả của các dự án PPP tại Việt Nam thời gian qua.

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức đối tác công tư tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích bối cảnh hội nhập, các cam kết từ hiệp định thương mại tự do (FTA) và các tồn tại thực tiễn, Chương 4 đưa ra hệ thống giải pháp và khuyến nghị hoàn thiện:

Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản:

  1. Xây dựng và công bố chiến lược tổng thể quốc gia về đầu tư PPP: Định hình chiến lược dài hạn cấp quốc gia, gắn kết quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các Bộ ngành và địa phương, công khai danh mục dự án ưu tiên huy động vốn PPP để nhà đầu tư chủ động nghiên cứu.
  2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về PPP: Xây dựng mô hình cơ quan đầu mối thống nhất quản lý hoạt động PPP trực thuộc cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương (tương tự mô hình PIMAC của Hàn Quốc), quy định rõ chức năng, quyền hạn, xóa bỏ tình trạng quản lý kiêm nhiệm, phân tán; bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ về tài chính, pháp lý và quản trị hợp đồng.
  3. Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá công tác QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP: Luận án thiết kế khung tiêu chí đánh giá chi tiết theo 5 giai đoạn thực hiện dự án (tương ứng với các bảng từ 4.1 đến 4.5):
    • Giai đoạn 1: Chuẩn bị dự án và phê duyệt chủ trương đầu tư (đánh giá sự phù hợp quy hoạch, tính khả thi tài chính, sự cần thiết đầu tư công);
    • Giai đoạn 2: Lựa chọn nhà đầu tư và đàm phán hợp đồng (đánh giá tính cạnh tranh, công khai minh bạch trong đấu thầu, phân bổ rủi ro trong hợp đồng dự án);
    • Giai đoạn 3: Thực hiện hợp đồng và thi công xây dựng (đánh giá việc quản lý tiến độ, giám sát chất lượng, giải phóng mặt bằng, quản lý chi phí);
    • Giai đoạn 4: Vận hành, khai thác và bảo trì công trình (đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp, mức độ hài lòng của xã hội, giám sát doanh thu thực tế);
    • Giai đoạn 5: Chuyển giao công trình và thanh lý hợp đồng (đánh giá chất lượng tài sản bàn giao, thủ tục quyết toán và nghĩa vụ bảo hành).
  4. Xây dựng Website Chính phủ chuyên trách về đầu tư PPP: Thiết lập hệ thống dữ liệu quốc gia trực tuyến để công khai toàn bộ thông tin dự án, pháp lý, quy trình đấu thầu, hồ sơ mời thầu, báo cáo giám sát và tiếp nhận phản hồi từ cộng đồng.

Đi kèm với 4 giải pháp là 6 khuyến nghị mang tính thực thi:

  • (1) Hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính sách và văn bản quy phạm dưới luật;
  • (2) Khuyến nghị cơ chế tài chính linh hoạt, xác định rõ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước ("vốn mồi"), cơ chế chia sẻ giảm doanh thu;
  • (3) Rà soát phân cấp thẩm quyền phê duyệt quyết định đầu tư phù hợp với quy mô dự án;
  • (4) Thiết lập các biện pháp hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp của Chính phủ trong các giai đoạn đầu tư và vận hành;
  • (5) Tăng cường chế tài quản lý, sàng lọc và nâng cao điều kiện năng lực tài chính, năng lực kỹ thuật của đối tác tư nhân;
  • (6) Xây dựng cơ chế hài hòa lợi ích hợp pháp giữa ba chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp dự án và cộng đồng người sử dụng dịch vụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp khoa học của luận án:

  • Thứ nhất: Luận án chứng minh một cách có hệ thống rằng công tác QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP là nhân tố then chốt quyết định sự thành bại của dự án; hoạt động này phản ánh bản chất của sự tương tác chặt chẽ trong mối quan hệ đối tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhân, hướng tới mục tiêu tối thượng là cân bằng lợi ích giữa khu vực công, nhà đầu tư và người hưởng lợi dịch vụ.
  • Thứ hai: Về mặt lý luận, tác giả đã tập hợp, hệ thống hóa và bổ sung toàn diện các khái niệm, nội dung quản lý và đặc trưng của dự án ĐTXD theo phương thức PPP, bao hàm các khâu: hoạch định dự án, tổ chức thực thi chính sách, phân cấp thẩm quyền, hoàn thiện bộ máy quản trị, đến kiểm tra, giám sát và đánh giá dự án.
  • Thứ ba: Chỉ rõ hệ thống các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến hiệu quả QLNN, làm căn cứ khoa học để xác lập các nội dung và tiêu chí đánh giá hoạt động QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP.
  • Thứ tư: Khái quát hóa bức tranh thực trạng công tác QLNN đối với các dự án PPP tại Việt Nam trong giai đoạn từ 1993 đến năm 2020; phân tích và chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong cơ chế đấu thầu, giám sát, lập dự toán và phân bổ rủi ro.

Những điểm mới của luận án:

  • Một là: Đề xuất phân chia tiến trình thực hiện dự án PPP thành năm giai đoạn cụ thể (từ chuẩn bị dự án, lựa chọn nhà đầu tư, thi công xây dựng, vận hành khai thác đến chuyển giao công trình), tạo cơ sở để hoạt động QLNN được tổ chức tường minh, liên tục và có thể can thiệp, điều chỉnh kịp thời ở từng mốc thời gian.
  • Hai là: Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ hoàn thiện QLNN đối với dự án ĐTXD theo phương thức PPP, trong đó đóng góp nổi bật là xây dựng bộ khung tiêu chí đánh giá công tác QLNN theo từng giai đoạn dự án, xác định rõ nội dung đánh giá, phương pháp đánh giá và đối tượng đánh giá tương ứng cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Ba là: Đề xuất hệ thống 6 nhóm khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm tạo lập sự đồng bộ về tài chính, phân cấp quản lý, cơ chế chia sẻ rủi ro và giải quyết tranh chấp giữa các bên tham gia dự án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực có quy mô dự án lớn là hạ tầng giao thông đường bộ và hạ tầng năng lượng, chưa mở rộng phân tích các lĩnh vực hạ tầng xã hội khác (như y tế, giáo dục hay xử lý rác thải, cấp thoát nước).
  • Về nguồn dữ liệu định lượng, mẫu khảo sát ($N = 112$) tập trung vào đội ngũ cán bộ, chuyên viên đang công tác tại các cơ quan quản lý nhà nước, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông Vận tải và các Ban Quản lý dự án, chưa khảo sát diện rộng ý kiến phản hồi từ phía các nhà đầu tư tư nhân, các ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng và cộng đồng dân cư trực tiếp trả phí dịch vụ.
  • Về mốc thời gian, các phân tích thực trạng chủ yếu chốt dữ liệu đến năm 2020 (trước thời điểm Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021).

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành dịch vụ công và hạ tầng xã hội nhằm kiểm định mức độ tương thích của bộ tiêu chí đánh giá 5 giai đoạn trong các điều kiện hợp đồng khác nhau (như hợp đồng BTL, BLT).
  • Tiếp tục khảo sát thu thập dữ liệu đa chiều từ phía các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, các định chế tài chính và người thụ hưởng dịch vụ để hoàn thiện mô hình định lượng đánh giá các rủi ro xã hội.
  • Nghiên cứu, theo dõi và đánh giá tác động thực tế của Luật PPP năm 2020 sau một thời gian đi vào cuộc sống, đặc biệt là cơ chế chia sẻ doanh thu tăng/giảm và việc bãi bỏ hình thức hợp đồng BT.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có thể tham khảo mô hình tổ chức bộ máy cơ quan đầu mối PPP và ứng dụng bộ khung tiêu chí đánh giá qua 5 giai đoạn (Bảng 4.1 đến Bảng 4.5) để chuẩn hóa quy trình thẩm định, giám sát hợp đồng dự án.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan phong phú với danh mục các công trình trong và ngoài nước, phương pháp kết hợp định tính - định lượng (sử dụng phần mềm SPSS, kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy) trong chuyên ngành Quản lý xây dựng và Kinh tế xây dựng.
  • Khu vực tư nhân và các tổ chức tài trợ vốn: Doanh nghiệp dự án và các tổ chức tín dụng có thể sử dụng các phân tích về phân bổ rủi ro, cấu trúc tài chính và quy trình đàm phán hợp đồng để nhận diện các rủi ro pháp lý khi tham gia vào các dự án PPP hạ tầng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu khảo sát định lượng trong luận án được xác định quy mô tối thiểu và phân bổ cấu trúc như thế nào?
Luận án căn cứ vào tiêu chuẩn EFA của Hair và cộng sự (2006) với công thức $N_{EFA} = 5 \times m$ (nhóm lớn nhất có 22 biến, suy ra $N_{EFA} = 110$) và công thức hồi quy của Tabachnick và Fidell (2007) với $N = 50 + 8 \times var$ (nhóm lớn nhất có 6 biến độc lập, suy ra $N = 98$). Tác giả chọn kích thước mẫu tối thiểu là 110. Thực tế tác giả phát ra 150 phiếu, thu về 112 phiếu hợp lệ. Cấu trúc mẫu gồm: 43,5% người dưới hoặc bằng 40 tuổi và 56,5% người trên 40 tuổi; 75,0% có trình độ đại học và 25,0% có trình độ trên đại học; phân bổ tại các Ban Quản lý dự án (37,0%), Sở Giao thông Vận tải (34,0%), Khu Quản lý giao thông (23,5%), Sở Kế hoạch và Đầu tư (5,0%) và đối tượng khác (1,0%).

2. Kiểm toán Nhà nước đã chỉ ra những tồn tại cụ thể nào về mặt tài chính tại các dự án giao thông đầu tư theo phương thức BOT được dẫn chứng trong luận án?
Luận án dẫn chứng số liệu thực tế từ công tác kiểm toán: Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị giảm thời gian thu phí hoàn vốn của 40 dự án BOT giao thông với tổng thời gian lên tới 120 năm so với phương án tài chính được duyệt ban đầu, đồng thời kiến nghị giảm trừ giá trị quyết toán đầu tư hàng nghìn tỷ đồng do việc lập, thẩm định và phê duyệt tổng mức đầu tư ban đầu chưa chính xác, dự toán tính sai khối lượng hoặc đơn giá chưa hợp lý.

3. Luận án chia quy trình thực hiện dự án ĐTXD theo phương thức PPP thành mấy giai đoạn để thiết lập bộ tiêu chí đánh giá?
Luận án đề xuất chia dự án thành 5 giai đoạn cụ thể để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá của cơ quan QLNN: Giai đoạn 1 - Chuẩn bị dự án; Giai đoạn 2 - Chuẩn bị và tổ chức lựa chọn nhà đầu tư; Giai đoạn 3 - Thực hiện hợp đồng dự án và thi công xây dựng công trình; Giai đoạn 4 - Quản lý vận hành, khai thác và bảo trì; Giai đoạn 5 - Chuyển giao công trình và kết thúc hợp đồng dự án (chi tiết các tiêu chí được trình bày tại các Bảng từ 4.1 đến 4.5 của luận án).

4. Luận án chỉ ra ví dụ cụ thể nào về sự thiếu đồng bộ, chồng chéo trong công tác quy hoạch dự án PPP ngành giao thông tại Việt Nam?
Văn bản luận án dẫn chứng trường hợp Quốc lộ 20 từ Dầu Giây (Đồng Nai) đi sân bay Liên Khương (Lâm Đồng). Tuyến đường hiện hữu này được đầu tư cải tạo, nâng cấp thông qua các hợp đồng BT và BOT; tuy nhiên, cơ quan nhà nước lại đồng thời phê duyệt quy hoạch một tuyến đường cao tốc mới chạy song song cũng dự kiến áp dụng phương thức PPP. Sự chồng chéo này dẫn tới nguy cơ phân tán lưu lượng phương tiện, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh tế - xã hội và phương án hoàn vốn tài chính của dự án BOT trên quốc lộ hiện hữu.

5. Bốn nhóm giải pháp trọng tâm mà tác giả đề xuất để hoàn thiện QLNN đối với dự án PPP là gì?
Tác giả đề xuất 4 giải pháp gồm: (1) Xây dựng và công bố chiến lược tổng thể quốc gia về đầu tư theo phương thức PPP, gắn kết với chiến lược của các Bộ, ngành và các tỉnh; (2) Hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về PPP thông qua việc thành lập cơ quan chuyên trách đầu mối thống nhất và đào tạo nhân sự; (3) Xác lập bộ tiêu chí khung đánh giá hoạt động QLNN theo 5 giai đoạn của dự án PPP; (4) Xây dựng cổng thông tin điện tử (Website) của Chính phủ chuyên trách về đầu tư PPP để công khai và minh bạch hóa toàn bộ thông tin dự án.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Quốc Trường đã hoàn thành việc hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức PPP phù hợp với đặc thù Việt Nam. Dựa trên việc phân tích thực trạng giai đoạn 1993–2020 kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và xử lý định lượng trên 112 mẫu khảo sát, luận án chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến tồn tại về thể chế, quy hoạch, bộ máy và hoạt động giám sát. Hệ thống 4 nhóm giải pháp, khung tiêu chí đánh giá qua 5 giai đoạn và 6 nhóm khuyến nghị được đề xuất là tài liệu khoa học có giá trị thực tiễn cao cho các cơ quan quản lý, các nhà nghiên cứu và các bên tham gia vào quá trình triển khai dự án PPP tại Việt Nam.