Luận án về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức PPP tại Việt Nam

Luận án phân tích quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức đối tác công tư tại Việt Nam, nêu rõ thách thức và giải pháp.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Quản Lý Nhà Nước

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

232
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THEO PHƯƠNG THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ

1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1. Các nghiên cứu trong nước

1.1.1.1. Nghiên cứu về khung pháp lý từ các nghiên cứu trong nước
1.1.1.2. Nghiên cứu về quy hoạch và phát triển dự án từ các nghiên cứu trong nước

Tóm tắt

I. Lý do lựa chọn đề tài

Việc cung cấp cơ sở hạ tầng tại Việt Nam chủ yếu do khu vực công đảm nhiệm thông qua ngân sách nhà nước hoặc ODA. Tuy nhiên, ngân sách quốc gia không đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư xã hội. Áp lực phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại đã thúc đẩy việc tìm kiếm nguồn vốn mới, dẫn đến sự ra đời của phương thức đối tác công tư (PPP). Tại Việt Nam, phương thức này đã được áp dụng từ năm 1993 với các hợp đồng BOT cho nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù đã có nhiều dự án PPP, nhưng một số dự án như “Cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết” vẫn không thành công. Nhiều dự án BOT trong ngành giao thông không được người dân ủng hộ, dẫn đến việc không hoàn vốn cho nhà đầu tư. Thiếu quy hoạch tổng thể và hành lang pháp lý chưa đầy đủ là những nguyên nhân chính cản trở sự phát triển của PPP tại Việt Nam. Do đó, nghiên cứu này nhằm làm rõ vai trò của quản lý nhà nước trong việc áp dụng phương thức PPP vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

II. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là xây dựng luận cứ khoa học để đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức PPP. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: (a) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thành công của dự án PPP tại một số nước phát triển và đang phát triển; (b) Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với dự án PPP; (c) Đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế trong quản lý nhà nước đối với các dự án PPP tại Việt Nam; (d) Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với dự án PPP trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu sẽ tập trung vào các dự án trong lĩnh vực giao thông và năng lượng, nhằm tìm hiểu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý và thực thi chính sách pháp luật về PPP.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức PPP, bao gồm luật pháp, chính sách, phương pháp và công cụ quản lý của Nhà nước. Phạm vi nghiên cứu sẽ tập trung vào các dự án trong lĩnh vực giao thông và năng lượng, được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam từ năm 2014 đến 2020. Nghiên cứu sẽ khảo sát thực trạng quản lý nhà nước đối với các dự án PPP, tìm hiểu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý và thực thi chính sách pháp luật về PPP. Điều này sẽ giúp xác định các tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với dự án PPP của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

IV. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ tiếp cận từ cả lý luận và thực tiễn, xem xét các dự án PPP từ góc nhìn quản lý nhà nước. Phương pháp nghiên cứu bao gồm kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng, phân tích và tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu khác nhau. Nghiên cứu sẽ khảo sát thực trạng quản lý nhà nước đối với dự án PPP tại Việt Nam, đồng thời phân tích các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản lý nhà nước. Các phương pháp cụ thể sẽ được áp dụng để đánh giá hiệu quả của các dự án PPP và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

V. Những đóng góp khoa học và điểm mới của luận án

Nghiên cứu sẽ chỉ ra rằng quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức PPP là yếu tố quyết định đến sự thành công của dự án. Luận án sẽ hệ thống hóa và bổ sung các vấn đề lý luận liên quan đến PPP, đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước. Điểm mới của nghiên cứu là đề xuất các giai đoạn của dự án PPP và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với dự án PPP ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng sẽ đưa ra các khuyến nghị nhằm đồng bộ hóa các giải pháp của luận án với thực tiễn hiện tại.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu trên đây, tác giả đã tiến hành sưu tầm và lược khảo tổng quan nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến quản lý nhà nước (QLNN) đối với các dự án ĐTXD theo phương thức đối tác công tư (PPP). Dưới đây là những công trình nghiên cứu điển hình trong số đó.1 Các nghiên cứu trong nước 1.1 Nghiên cứu về khung pháp lý từ các nghiên cứu trong nước (1) Báo cáo nghiên cứu RS-09 của ủy ban kinh tế của Quốc hội, tác giả Mai Thị Thu và cộng sự với công trình “Phương thức đối tác công tư (PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam” [75] Báo cáo cho rằng những tồn tại và bất cập trong QLNN(1) Xây dựng, công bố danh mục dự án, (2) lựa chọn nhà đầu tư và năng lực nhà đầu tư thực hiện dự án, (3) thẩm định và phê duyệt dự án, tổng mức đầu tư, (4) công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, và (5) hoàn vốn đầu tư cho NĐT đối với dự án BT. Cũng như nhiều đề tài nghiên cứu, nhận định chung là khung pháp lý về PPP chưa đầy đủ và hoàn thiện, các văn bản hướng dẫn liên quan không cụ thể, cơ chế quản lý còn chồng chéo và hiệu quả thấp, một số Bộ - ngành – địa phương vẫn chưa thực sự thống nhất và đồng thuận trong việc thí điểm mô hình PPP. Trong cơ chế hợp tác, xác định trách nhiệm, phân chia rủi ro giữa các bên chưa rõ ràng, tỷ lệ vốn góp của Nhà nước bao gồm một số yếu tố là không rõ ràng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và huy động còn chênh lệch dẫn đến chi phí lãi vay của dự án tăng cao, hợp đồng dân sự còn nhiều lỗ hổng và hiệu lực pháp lý chưa cao.

Các loại hợp đồng theo phương thức PPP có những đặc điểm khác nhau, về sở hữu tài sản, trách nhiệm, phân chia rủi ro … tổng hợp tại bảng 1.1: Đặc điểm chủ yếu của các phương thức thực hiện PPP phổ biến Nhượng Hợp đồng quyền khai Phương thức dịch vụ/ BTO BOT DBFO BOO thác/ Cho quản lý thuê Sở hữu tài sản Nhà nước Nhà nước Nhà Nhà Nhà Tư nhân nước nước nước 6 Kỳ hạn hợp 1-3; 3-5 8-15, hoặc lâu 20-30 20-30 20-30 Không đồng (năm) hơn thời hạn Trách nhiệm Nhà nước Nhà nước Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân đầu tư Trách nhiệm Nhà nước/ Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân vận hành Tư nhân Rủi ro thương Nhà nước Tư nhân/ Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân mại Chia sẻ Nguồn: [75] Từ kết quả nghiên cứu ở Bảng 1.1, báo cáo đã nghiên cứu thêm một loại hợp đồng (DBFO) so với các loại hợp đồng trong Nghị định số 63/2018/NĐ-CP. Trong phương thức DBFO có nhiều hơn một đối tác tư nhân có liên quan, đó thường là sự liên doanh giữa đối tác tư nhân (đơn vị thiết kế - xây dựng – vận hành, đơn vị cung ứng) với ngân hàng/các nhà đầu tư tài chính. (2) Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) (2011) [82] thực hiện đề tài “Hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân”, đề tài nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc phân tích, đánh giá thực trạng của việc thực hiện các quy định về đầu tư phát triển hạ tầng của Việt Nam, hệ thống các quy định về sự hợp tác giữa Nhà nước – tư nhân trong đầu tư phát triển hạ tầng, tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về vấn đề này. Nghiên cứu này tìm hiểu các nguyên lý và yếu tố tác động lên sự vận hành của phương thức PPP trên thế giới và đề xuất phương pháp hoàn thiện quy định về PPP tại Việt Nam.

(3) “Nghiên cứu PPP trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng kỹ thuật và xã hội giao thông của Việt Nam” tác giả Đinh Sơn Tùng và Trần Gia Trung Đỉnh (2007), đã nhấn mạnh đến sự thiếu hụt vốn đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật và xã hội giao thông trong khi nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phát triển rất lớn. Nghiên cứu cho rằng hành lang pháp lý mạnh là điều rất cần thiết để thúc đẩy PPP ở Việt Nam, xây dựng mục tiêu chiến lược phát triển PPP và năng lực thực hiện quản lý dự án theo phương thức PPP ở các cấp, cần lựa chọn các dự án hợp tác công tư phù hợp và tạo dựng cơ chế thúc đẩy hoạt động kinh doanh có trách nhiệm trong triển khai PPP trong lĩnh vực hạ tầng [51]. (4) Nhữ Trọng Bách (2014) với bài “Hợp tác công tư trong đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Tài chính số (08) 123, đánh giá thực trạng, phân tích hiệu quả của quá trình áp dụng PPP vào cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được như nâng cao năng lực về cơ sở hạ tầng, tiếp cận với phương thức quản lý hiện đại hơn, giảm những hạn chế như thất thoát vốn, chất lượng công trình kém, quá trình áp dụng PPP vào cơ sở hạ tầng tại Việt Nam còn tồn tại nhiều 7 hạn chế cần khắc phục như thời gian thực hiện kéo dài, thay đổi về mặt thể chế thường xuyên dẫn tới rủi ro trong các dự án PPP [2].

(5) Khi xem xét những tồn tại khi áp dụng phương thức PPP với đề tài “Huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước để thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam”, tác giả Đặng Thị Hà (2013) cho rằng chính sách chưa cụ thể, thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước là nguyên nhân dẫn đến khó thực hiện dự án theo phương thức PPP. Tuy nhiên, các phân tích và đánh giá của tác giả chưa đi sâu nghiên cứu, chỉ mang tính gợi mở vấn đề do đó đề xuất giải pháp còn mang tính chung chung như: (i) Hoàn thiện khung pháp lý và tiến tới xây dựng luật PPP, trong đó, không chỉ cần phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của các bên, mà còn quy định rõ lợi ích của mỗi bên tham gia dự án; (ii) Thành lập cơ quan đầu mối về PPP, đó là phải có một cơ quan đầu mối có đủ thẩm quyền giải quyết các vấn đề về PPP; (iii) Nâng cao nhận thức đúng đắn về PPP, trước hết cần có sự thống nhất nhận thức về PPP [44]. (7) Tác giả Nguyễn Thị Bình với đề tài “Hoàn thiện QLNN đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách trong ngành GTVT Việt Nam” (2013), đã nêu ra 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với ĐTXD từ vốn ngân sách trong ngành GTVT: (i) Luật pháp, chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế liên quan đến đầu tư; (ii) Nhóm nhân tố liên quan đến bộ máy tổ chức quản lý ĐTXD; (iii) Nhóm nhân tố gắn với năng lực cán bộ quản lý và (iv) Kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với xây dựng giao thông. Từ những phân tích tác giả nhận định phương hướng hoàn thiện QLNN trong ngành GTVT, bao gồm : QLNN trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch ĐTXD; QLNN trong khâu lập, thẩm định, phê duyệt DAĐT; QLNN trong triển khai đấu thầu và thi công; QLNN đối với nghiệm thu, thẩm định chất lượng và bàn giao công trình [3].

(8) Tác giả Nguyễn Xuân Phúc (2012) trong luận án tiến sỹ với đề tài “QLNN đối với các doanh nghiệp kinh tế quốc phòng”, đã phân tích năng lực thể chế của Nhà 8 nước thể hiện: (1) hệ thống luật pháp đầy đủ, ổn định và công bằng cho các doanh nghiệp, (2) hệ thống chính sách hợp lý, tạo môi trường thuận lợi và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, (3) bộ máy và cán bộ công chức nhà nước trong sạch. Từ đó nhấn mạnh tăng cường hơn nữa công tác QLNN cũng như chất lượng của các dự án, hướng tới kêu gọi các Nhà đầu tư, tổ chức tín dụng quốc tế triển khai dự án phù hợp với thông lệ quốc tế trong bối cảnh Việt Nam đã hội nhập sâu rộng, xác định việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện dự án PPP đóng vai trò quyết định. Bên cạnh đó, chế tài xử lý vi phạm của nhà đầu tư cũng như cơ quan có liên quan phía Nhà nước còn thiếu, chưa chặt chẽ; Thiếu quy định về vai trò, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, cụ thể về cơ chế chính sách chia sẻ rủi ro, giải quyết tranh chấp giữa các bên tham gia dự án [58].2 Nghiên cứu về quy hoạch và phát triển dự án từ các nghiên cứu trong nước (1) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Vận dụng mô hình PPP trong phát triển hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam (2010), Hà Nội Chủ nhiệm đề tài Bùi Thị Hoàng Lan và các cộng sự [52] đã nghiên cứu đi sâu cho ngành giao thông đường bộ, các khía cạnh nghiên cứu cũng thể hiện sự khó khăn trong phát triển phương thức PPP, cho thấy những tồn tại chung khi áp dụng phương thức này, cho dù ở một ngành cũng nói lên những vấn đề cần quan tâm giải quyết.

Vấn đề đặt ra là việc quy hoạch và phát triển dự án PPP, nghiên cứu cho rằng có hiện tượng chồng chéo không tham chiếu với kế hoạch cần ưu tiên, tác động tiêu cực đến kinh tế và hiệu quả của dự án. Ví dụ: Quốc lộ 20 từ Dầu Giây ở Đồng Nai đi sân bay Liên Khương tỉnh Lâm Đồng, cải tạo nâng cấp tuyến hiện tại thông qua các hợp đồng BT và BOT, nhưng lại được quy hoạch cho một đường cao tốc mới cũng sẽ áp dụng phương thức PPP song song với dự án này. Về tính minh bạch trong quá trình đấu thầu và đàm phán được mô tả là không có sự cạnh tranh, phần lớn nhà đầu tư đề xuất một dự án cụ thể, sau một thời gian xem xét của các cơ quan liên quan và qua đàm phán, nhà đầu tư được trao quyền bằng một quyết định của Thủ tướng và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, sau khi công bố đơn vị thắng thầu hợp đồng PPP được đàm phán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng theo phương thức PPP tại Việt Nam" tập trung vào việc phân tích và đánh giá vai trò của quản lý nhà nước trong các dự án đầu tư xây dựng theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Việt Nam. Luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý và chính sách hiện hành mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc thực hiện các dự án PPP. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức quản lý hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi cung cấp cái nhìn về tổ chức đấu thầu và quản lý hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng ở cấp địa phương. Cuối cùng, Nâng cao chất lượng tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng và quy hoạch Nam Trung Bộ sẽ cung cấp thêm thông tin về chất lượng tư vấn trong quản lý dự án, một yếu tố quan trọng trong thành công của các dự án PPP.