Chương 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO VÀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở TỈNH THANH HOÁ 1. Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về tôn giáo 1. Một số vấn đề lý luận về tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử, theo các tài liệu thống kê đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tôn giáo, tùy cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Thuật ngữ tôn giáo (religion trong tiếng Anh), bắt nguồn từ tiếng La tinh là religio có nghĩa là sự tồn tại một quyền lực bên ngoài mà con người phải tuân theo; cảm giác mộ Đạo và tuân theo quyền lực đó.
Theo tiếng Hy Lạp thì tôn giáo là legere - ràng buộc hay mối liên hệ giữa con người và thần linh. Thuật ngữ religion lần đầu tiên được Thiên chúa giáo sử dụng ngoài ý nghĩa như trên còn có nghĩa là ý thức về một cộng đồng được tổ chức. Các tôn giáo cụ thể có khoảng trên dưới 5 nghìn tôn giáo đã và đang tồn tại trong lịch sử, hiện nay có khoảng 250 định nghĩa về tôn giáo. Theo thời gian thuật ngữ ngày càng được mở rộng về nội hàm và mức độ phổ biến, tùy từng tôn giáo, cách tiếp cận và ở từng nước mà nó được hiểu theo những nghĩa khác nhau.
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng, là sản phẩm do con người sáng tạo ra và tồn tại rất lâu dài. trong những thời kỳ lịch sử khác nhau tôn giáo sẽ có những biến đổi để phù hợp với kết cầu chính trị và xã hội của thời đại đó. Vì thế khi xã hội phát triển đến một mức độ nhất định, khi mà những nguồn gốc của tôn giáo bị loại bỏ, khoa học giúp cho con người nhận thức được các hiện tượng tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần mất đi vị trí và vai trò của nó.Mác nói tôn giáo mất đi khi mà “ Khi nào con người không chỉ mưu sự, mà còn làm cho thành sự nữa thì chỉ khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn còn đang phản ánh và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tôn giáo mới sẽ mất đi, và cùng với bản thân sự phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ không còn gì để phản ánh nữa” [35, tr. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.
Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen viết: “Tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [35; 437]. Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội và là một hiện tượng xã hội có nhiều chức năng mang tính phức tạp, không thuần nhất. Hầu hết các tôn giáo lớn đều có khả năng hướng thiện, giáo dục con người vươn tới các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp. Đồng thời các tôn giáo cũng tạo ra những sinh hoạt văn hóa cộng đồng để duy trì niềm tin tôn giáo thông qua các hoạt động này.
Nhưng ngược lại, các tôn giáo cũng chứa đựng những nhân tố nhạy cảm dễ bị lôi kéo vào xu hướng tiêu cực và dễ gây ra những xung đột chính trị - xã hội Các giai cấp thống trị xã hội trong lịch sử, đã lợi dụng tính mâu thuẫn trong tôn giáo để khai thác những mặt tiêu cực, phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Điều này đã được C.Mác chỉ rõ: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là sự biểu hiện của sự nghèo nàn trong hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [36; 570].
Tôn giáo là sản phẩm của con người, nó tồn tại và biến đổi cùng với xã hội loài người. Trong cuộc sống của mình, để tồn tại được, con người phải được đáp ứng được những nhu cầu về vật chất tối thiểu như ăn, mặc, ở. Tuy nhiên, con người không chỉ cần có vậy, khi xã hội càng phát triển thì việc thỏa mãn nhu cầu tinh thần, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo càng được chú ý. Tôn giáo là một trong những nhu cầu thiết yếu, nó có khả năng giữ vai trò thăng bằng trạng thái tinh thần của con người.
Đến với tôn giáo không hẳn là người ta 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chốn chạy thực tại, mà có lẽ quan trọng hơn là họ tìm thấy ở đấy sự yên tĩnh trong tâm hồn, sự cân bằng về tình cảm, sự đồng cảm, chia sẻ tâm tư nguyện vọng với cộng đồng. Trong xã hội công xã nguyên thủy, do trình độ của lực lượng sản xuất và điều kiện sinh hoạt vật chất thấp kém, con người luôn cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên bao la, hùng vĩ, đầy bí ẩn. Vì vậy người nguyên thủy đã gán cho tự nhiên những sức mạnh siêu nhiên. Khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, giai cấp hình thành, đối kháng giai cấp nảy sinh, hiện tượng tiêu cực xã hội ngày càng phát triển,.
con người lại thêm một bất lực nữa, bất lực trước lực lượng tự phát nảy sinh trong xã hội. Không giải thích được sự phân hóa giai cấp và nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội, những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi trong cuộc sống, người ta hi vọng ảo tưởng vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới “ bên kia”. Quần chúng bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp và giai cấp thống trị bóc lột đã sử dụng tôn giáo như một công cụ, phương tiện để duy trì ách thống trị của mình là những nguyên nhân xã hội cho sự ra đời và tồn tại của tôn giáo. Sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sự hiện diện của những bất công xã hội, cùng với nỗi thất vọng, bất lực trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị, đó là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại.
Các nhà duy tâm trước C.Mác thường nhấn mạnh về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo. Còn những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin lại quan tâm trước hết đến nguồn gốc kinh tế - xã hội của tôn giáo. Chính vì vậy mà học thuyết duy vật của C.Mác đã vượt lên trên các nhà duy vật đương thời. Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác – Lênin không phủ nhận nguồn gốc nhận thức của tôn giáo mà còn làm sáng tỏ một cách có cơ sở khoa học nguồn gốc đó.
Ở một giai đoạn lịch sử nhất định thì sự nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình là có giới hạn. Chức năng của khoa học là tìm hiểu, khám phá ra những điều mà nhân loại chưa biết; vận dụng những tri thức đã biết để tiếp tục nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản than 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người ngày một tiến bộ hơn. Song, ở thời kỳ lịch sử cụ thể thì khoảng cách giữa “biết” và “chưa biết” vẫn tồn tại. Điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì điều đó được tôn giáo thay thế.
Ngay cả những vấn đề đã được khoa học chứng minh, nhưng trình độ dân trí thấp kém vẫn là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn liền với đặc điểm của quá trình nhận thức của con người về thế giới khách quan - đó là một quá trình phức tạp và đầy mâu thuẫn. Một mặt, hình thức phản ánh hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu, thì con người càng có khả năng nhận biết đầy đủ, sâu sắc thế giới khách quan bấy nhiêu; mặt khác, càng khái quát hóa, trìu tượng hóa, thì vật, hiện tượng mà con người nhận thức càng có khả năng xa rời hiện thực và có thể phản ánh sai lệch hiện thực. Sự nhận thức bị tuyệt đối hóa, vai trò của chủ thể nhận thức bị cường điệu hóa sẽ dẫn đến thiếu khách quan, mất dần cơ sở trần thế để trở thành siêu nhiên, thần thánh.
Vấn đề ảnh hưởng tâm lý, tình cảm của con người đối với sự ra đời và tồn tại của tôn giáo đã được các nhà duy vật cổ đại nghiên cứu. Họ thường đưa ra các luận điểm “sự sợ hãi tạo ra thần linh”.Lênin tán thành và phân tích thêm: “Sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản - mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó - là thế lực. bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “ bất ngờ”, “ ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành những người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm và dồn họ vào cảnh chết đói, đó là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại” [32; 515 - 516]. Nhưng không phải chỉ có sự sợ hãi trước sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội mới dẫn con người đến việc nhờ cậy ở thần linh, mà ngay cả những tình cảm tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng, tình yêu thương đồng loại.
trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với con người cũng được thể hiện qua các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, góp phần bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, nối trống vắng trong tâm hồn, an ủi, vỗ về, xoa dịu con người lúc sa cơ lỡ vận hay khi bệnh tật hiểm nghèo, tình duyên oan trái. Vì thế, tôn giáo dù chỉ là hạnh phúc hư ảo, song người ta vẫn cần đến nó và cảm thấy “hạnh phúc” chừng nào chưa có hạnh phúc thực sự, “là trái tim của thế giới không có trái tim cũng giống như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần” như C.