CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 1. Người có công với cách mạng Mặc dù Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng được thực hiện từ lâu nhưng tới nay chưa có một văn bản Pháp luật nào nêu rõ khái niệm “người có công với cách mạng”. Tuy nhiên, căn cứ các tiêu chuẩn đối với các đối tượng là NCC mà Nhà nước ta đã quy định, có thể nêu khái niệm “người có công với cách mạng” theo hai nghĩa sau: Theo nghĩa rộng: “Người có công với cách mạng là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc.
Họ là người có thành tích đóng góp hoặc những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật”. Theo nghĩa hẹp: “Người có công với cách mạng là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, được các cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật”. Theo Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày 29/6/2005 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng số 04/2012/PL-UBTVQH13 ngày 16/7/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 11 thì khái niệm “người có công với cách mạng” cũng được hiểu theo nghĩa rộng này, bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945: là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945. Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945: là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Liệt sĩ: là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công". Bà mẹ Việt Nam anh hùng: là những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”: Có 02 con trở lên là liệt sĩ; chỉ có 02 con mà 01 con là liệt sĩ và 01 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; chỉ có 01 con mà người con đó là liệt sĩ; có 01 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ; có 01 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên”. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: là những người có hành động anh hùng, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; có phẩm chất đạo đức cách mạng, là tấm gương mẫu mực về mọi mặt được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. 12 Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến: là những người trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, có tinh thần đoàn kết, lao động dũng cảm và sáng tạo, lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong sản xuất và công tác phục vụ kháng chiến được Nhà nước tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động”.
Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh: Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh”. Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh"; Thương binh loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993. Như vậy thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B được gọi chung là thương binh. Bệnh binh: là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 41% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh".
Người HĐKC bị nhiễm CĐHH: là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng CĐHH, bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của CĐHH. Người HĐCM hoặc HĐKC bị địch bắt tù, đày: là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch. 13 Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế: là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến. Người có công giúp đỡ cách mạng: là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"; Người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945; Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; Người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến.
Theo quy định của Pháp lệnh thì đối tượng được hưởng ưu đãi không chỉ bao gồm những NCC kể trên mà còn có thể có cả thân nhân của họ. Đó là cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con (con đẻ, con nuôi), thân nhân của liệt sĩ còn là người có công nuôi dưỡng liệt sĩ với điều kiện là phải đảm bảo thời điểm nuôi liệt sĩ từ lúc còn nhỏ và đủ thời gian nuôi dưỡng liệt sĩ theo quy định của pháp luật. Mặc dù đây không phải là đối tượng NCC như theo khái niệm, nhưng sự ưu đãi của Nhà nước và xã hội là hết sức cần thiết bởi họ cũng là những người chịu thiệt thòi về tinh thần, tình cảm và khó khăn do sự cống hiến hy sinh của người thân cho đất nước, dân tộc. Việc ưu đãi hợp lý đối với thân nhân NCC cũng chủ yếu trên cơ sở những đóng góp của NCC và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước.
Đó là đạo lý, là truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, đồng thời cũng nhằm hướng tới an sinh xã hội nói chung. Phân loại người có công với cách mạng theo chế độ trợ cấp ưu đãi: Người có công với cách mạng hưởng trợ cấp hàng tháng bao gồm: Người HĐCM trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người HĐCM từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Anh hùng 14 Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người HĐKC bị nhiễm CĐHH; Người HĐCM, HĐKC bị địch bắt tù, đày; Người có công giúp đỡ cách mạng hưởng trợ cấp hàng tháng. Thân nhân người có công với cách mạng hưởng trợ cấp hàng tháng bao gồm: Tuất người HĐCM trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 từ trần; Tuất người HĐCM từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 từ trần; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Tuất liệt sĩ hưởng trợ cấp hàng tháng; Tuất Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân từ trần; Tuất Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến từ trần; Tuất thương binh, người hưởng chính sách như thương binh từ trần; Tuất bệnh binh từ trần; Tuất nNgười HĐKC bị nhiễm CĐHH từ trần. Người có công với cách mạng hưởng trợ cấp một lần bao gồm: Người HĐKC giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng hưởng trợ cấp một lần.
Thân nhân người có công với cách mạng hưởng trợ cấp thờ cúng hàng năm: là người được họ tộc ủy quyền đảm nhiệm thờ cúng liệt sĩ. Đặc điểm của người có công với cách mạng: Một là, NCC bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Hai là, NCC là người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc, những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Ba là, phạm trù NCC rất rộng, trong phạm vi hẹp, đối tượng NCC là những người có công trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc ở thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Hơn nữa, Pháp lệnh ưu đãi NCC chủ yếu điều chỉnh đối tượng này. 15 Vai trò của người có công với cách mạng: Trong tình hình hiện nay, khi đất nước đã bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế. Bên cạnh những ưu điểm, những cái được thì trong nước mặt tiêu cực của xã hội đang tiềm ẩn, nảy sinh nhiều vấn đề xã hội hết sức bức xúc, các thế lực thù địch nước ngoài vẫn không ngừng chống phá cách mạng Việt Nam bằng các thủ đoạn diễn biến hòa bình thì vai trò của NCC càng có ý nghĩa lớn lao.