Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.
Những khái niệm liên quan đến đề tài luận văn 1. Người có công với cách mạng 1. Khái niệm người có công với cách mạng Hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi NCCVCM đã ban hành và được triển khai từ lâu nhưng vẫn chưa thấy có khái niệm rõ ràng về NCCVCM. Tuy nhiên các nhà khoa học đã đưa ra những quan điểm về NCCVCM dựa trên những tiêu chuẩn hiện hành đối với các đối tượng hưởng ưu đãi của nhà nước quy định.
Cụ thể: Theo nghĩa rộng thì “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc, phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc” [9, tr6]. Sự cống hiến của họ vì lợi ích của dân tộc được tôn vinh và được Nhà nước ghi nhận theo quy định của pháp luật, đồng thời cung cấp cho họ các chế độ ưu đãi về kinh tế, về chính trị, xã hội. Theo nghĩa này thì NCC không chỉ là những NCCVCM trong công cuộc chiếu đấu, giải phóng dân tộc mà còn là những NCC trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: Nhà giáo nhân dân; Anh hùng lao động, thầy thuốc nhân dân… Trong nghĩa hẹp “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận” [9, tr6].
Ở đây NCCVCM bao gồm những 12 người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã có thành tích đóng góp lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Theo điều 2 của Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ban hành ngày 16/7/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều pháp lệnh ưu đãi NCCVCM thì chế độ ưu đãi gồm NCCVCM và thân nhân của NCCVCM thì NCCVCM bao gồm: - Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945: Là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945. - Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945: Là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. - Liệt sĩ: Là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ chương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc 13 biệt khó khăn; Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao; Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm.
- Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ được công nhận và phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có 2 con trở lên là liệt sĩ; Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sĩ; Có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ; Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên. - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: Là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" theo quy định của pháp luật. - Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến: Là người được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến. - Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh: Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận thương binh" và "Huy hiệu thương binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; Dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; Làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
14 - Bệnh binh: + Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ mười lăm tháng trở lên; Hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chưa đủ mười lăm tháng nhưng đã có đủ mười năm trở lên công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; Đã công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ mười lăm năm nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí; Làm nghĩa vụ quốc tế; Thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; Khi đang làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao. + Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 41% đến 60% đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1994. + Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh khi thực hiện nhiệm vụ thuộc một trong các trường hợp: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ mười lăm tháng trở lên; Làm nghĩa vụ quốc tế đã xuất ngũ về gia đình, nay bị rối loạn tâm thần có liên quan đến bệnh cũ làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: Là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học và do nhiễm chất độc hóa học dẫn đến một trong các trường hợp sau đây: Mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; Vô sinh; Sinh con dị dạng, dị tật.
15 - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: Là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch. - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế: Là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến. - NCC giúp đỡ cách mạng: Là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"; Người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945; Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; Người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến. - Thân nhân NCCVCM: Là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng đối với NCC.
Thân nhân NCCVCM được hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước. Trong tình hình hiện nay, bên cạnh những thành tựu to lớn thì còn những mặt trái trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội như: Suy đồi đạo đức, các thế lực thù địch chống phá bằng nhiều thủ đoạn… thì vai trò của NCCVCM càng trở quan trọng và càng có ý nghĩa lớn lao: - NCCVCM là biểu tượng của lòng yêu nước đã góp phần trong việc giáo dục đạo đức, lối sống đối với thế hệ trẻ về sự biết ơn, sự kính trọng đối với sự hy sinh của thế hệ trước, tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí quật cường, cũng như trách nhiệm, ý thức phấn đấu vươn lên để gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước. - NCCVCM là thước đo tinh thần lao động cần cù, sáng tạo trong lao 16 động, trong học tập và sự nghiệp phát triển kinh tế.