Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Văn hóa Văn hóa là một trong những nội dung phức tạp, được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm, nghiên cứu. Chính vì vậy, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho rằng văn hóa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
Theo Từ Điển triết học “văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật và văn học, triết học, đạo đức, giáo dục, …). Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội” [13, tr. Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, PGS.TSKH Trần Ngọc 10 Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” Từ những cách tiếp cận về khái niệm “văn hóa” khác nhau như trên, ta có thể hiểu khái niệm chung nhất về văn hóa như sau: Văn hóa là tổng thể hệ thống những giá trị, những hoạt động có ý thức, mang tính xã hội và sáng tạo trong thực tiễn của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống và thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng đó.
Lễ hội và hoạt động lễ hội 1. Lễ hội Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, lễ hội là nét văn hóa rất đặc trưng. Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian có mặt ở khắp mọi miền đất nước. Nhiều lễ hội ra đời cách đây hàng nghìn năm đến nay vẫn được duy trì.
Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn là nhân thần hay thiên thần. Đó là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Giúp con người nhớ về cội nguồn, hướng thiện và tạo dựng một cuộc sống tốt lành. Lễ hội là những hoạt động, sinh hoạt văn hóa mà ở đó có sự gắn kết không thể tách rời của cả nội dung và hình thức của 2 thành tố cơ bản là lễ và hội.
Nghi lễ: Nghi lễ là những hình thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước nguyện về sự kiện, nhân vật đó mong muốn nhận được sự giúp đỡ của các thế lực siêu nhiên mà người ta đứng ra thờ cúng, cùng với sự may mắn tốt lành [13, tr28]. Hội: Hội là tập hợp những hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội của một cộng đồng đân cư nhất định, là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dân tham dự theo phong tục truyền thống hoặc nhân những dịp đặc biết. Những hoạt động 11 diễn ra trong hội phản ánh điều kiện, khả năng và trình độ phát triển của địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra các sự kiện đó [13, tr 31] Ngoài ra, trong hoạt động lễ hội còn bao gồm một số thành tố khác như hệ thống các trò diễn dân gian, hoạt động hội chợ triển lãm, văn hóa ẩm thực.Các thành tố này luôn có sự gắn kết mật thiết, tương hỗ lẫn nhau, sự gắn kết này luôn có trục trung tâm là định hướng phát triển. Các thành tố của lễ hội luôn vận hành quanh trục trung tâm đó để đạt được những mục tiêu nhất định, những mục tiêu này nhằm phục vụ lợi ích của cả cộng đồng chứ không chỉ phục vụ lợi ích riêng của một số người tổ chức lễ hội.
Lễ hội là một hoạt động tập thể do quần chúng nhân dân tiến hành, bất kỳ lễ hội nào cũng gắn với các địa bàn dân cư cụ thể, là hoạt động văn hóa của một địa phương. Về cơ bản, lễ hội tại Việt Nam là những hội làng nhưng cũng có nhiều lễ hội do nội dung và tính chất của nó được diễn ra trong một không gian rộng, có tính liên làng, liên vùng. Những hoạt động lễ hội này diễn ra không thường xuyên mà chỉ ở một vài thời điểm nhất định là mùa thu hay mùa xuân trong năm. Đây là thời điểm chuyển giao thời tiết, cũng là thời điểm chuyển giao mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp.
Vào thời điểm này, người ta tổ chức các hoạt động lễ hội nhằm các mục đích khác nhau. Đầu tiên, các hoạt động mang tính nghi lễ nhằm nhắc lại sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại diễn ra trong quá khứ. Đây chính là biểu hiện của đạo lý truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam thể hiện cách ứng xử văn hóa với thiên nhiên, thần thánh, con người. thông qua các hoạt động trong lễ hội.
Đó là những ứng xử của tập thể, của cộng đồng dân cư với hai thế lực siêu hình (thần thánh) và hữu hình (con người). Nó phản ánh mối quan hệ giữa siêu và thực, giữa con người với con người trong hoàn cảnh và hoạt động cụ thể. Có nhiều khái niệm nói về lễ hội như: Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng của 12 các tầng lớp nhân dân, diễn ra trong những chu kỳ, về không gian và thời gian nhất định để tiến hành những nghi thức mang tính biểu trưng về sự kiện, nhân vật được thờ cúng. Những hoạt động này tỏ rõ những ước vọng của con người, để vui chơi, giải trí trong tính cộng đồng cao [13, tr.
34] Lễ hội chính là một hình thức “diễn xướng dân gian” mà ở đó bảo lưu các phong tục, tập quán, lối sống, nếp sống. Các nghi thức, trình tự, nội dung và những hình thức diễn xướng trong các lễ hội mang đặc trung văn hóa dân tộc vừa hàm chứa các nét đặc sắc của yếu tố bản địa, vừa mang sắc thái địa phương, vùng miền. 44] Lễ hội là sự tái hiện, mô phỏng lại hình ảnh của các nhân vật, sự kiện lịch sử diễn ra trong quá khứ thông qua hình thức diễn xướng dân gian, các trò diễn dân gian. Ở trong các hoạt động đó có sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân [13, tr 82] Lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức một trò diễn được thăng hoa, được liên kết và quy tụ lại thành thế giới của tâm linh, tư tưởng và các biểu tượng, vượt lên trên thế giới hiện thực [33, tr 330] Nói tóm lại, lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong một khoảng thời gian và không gian xác định nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện các ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội.
Hoạt động lễ hội Hoạt động lễ hội bao gồm những hoạt động như sau: Hoạt động nghi lễ là một hệ thống các hành vi được đặc cách hóa, thẩm mỹ hóa đến cao độ, trở thành một thứ ngôn ngữ tượng trưng để truyền tải những ý niệm của cộng đồng trong giao tiếp với thần linh. Do được đặc cách hóa, thẩm mỹ hóa một cách chặt chẽ nên hoạt động này không dành cho tất cả mọi người 13 mà nó mang tính đại diện, đại biểu. Hoạt động nghi lễ có sự tham gia của những động tác, lời nói của cá nhân hay nhóm tập thể được thực hiện với sự phối hợp của âm thanh, đạo cụ diễn xướng, vũ đạo và đồ hiến tế. Với tư cách là tổ hợp của những phương tiện mang ý nghĩa, nó thể hiện thái độ quy phục, tôn vinh và dâng hiến đối với thần linh kèm theo cầu xin thần linh ban phát những điều tốt đẹp, mong muốn hạnh phúc.
Sự cầu xin đóng vai trò mục tiêu cho hoạt động nghi lễ. Hệ thống nghi lễ ít có sự thay đổi. Nghi lễ trong lễ hội tạo nên môi trường mà ở đó con người có sự cảm thông với nhau, tạo ra sinh khí mới - đặc biệt là các lễ hội diễn ra vào mùa Xuân. Đồng thời, lễ hội còn tạo nên môi trường sống hài hòa, đoàn kết xóm làng, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống lịch sử, văn hóa của nơi diễn ra lễ hội.
Lễ hội còn tạo điều kiện cho mọi người được trở về quê cũ, thăm lại dấu tích liên quan đến các anh hùng dân tộc, các sự kiện lịch sử, hay những vùng đất văn hóa… Hàng năm, Việt Nam có rất nhiều lễ hội như hội Chùa Hương, Chùa Thầy, Yên Tử, Chùa Bà Đen, Đền Hùng, Đền Gióng, Đền Kiếp Bạc… thu hút rất đông người bản xứ cũng như khách thập phương nô nức trẩy hội. Hoạt động bán nghi lễ là những hoạt động thể hiện theo một cách khác nhau với nghi lễ chính thức mong muốn của cộng đồng mở hội. Có rất nhiều hoạt động mà dân gian gọi là trò. Các trò đều biểu hiện dưới dạng vui chơi, biểu diễn và thưởng thức văn nghệ.có nguồn gốc sâu xa trong truyền thống văn hóa tín ngưỡng của dân cư nông nghiệp.
Các hoạt động thuần túy giải trí là hoạt động phục vụ nhu cầu của lễ hội truyền thống. Nó không liên quan tới nhu cầu tâm linh, nhưng lại tạo ra sự phấn khích, thậm trí là mục tiêu cá nhân hay nhóm trẩy hội.