Tổng quan nghiên cứu

Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là đòn bẩy chiến lược nhằm định hình thị trường, bảo vệ quyền lợi du khách và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Năm 2017, ngành du lịch Việt Nam ghi nhận dấu mốc lịch sử khi đón gần 13 triệu lượt khách quốc tế (tăng 30% so với năm 2016), phục vụ 73,2 triệu lượt khách nội địa và đạt tổng thu hơn 510.000 tỷ đồng. Tại Thủ đô Hà Nội – trung tâm du lịch hàng đầu cả nước, lượng khách năm 2017 đạt 23,83 triệu lượt (trong đó khách quốc tế đạt 4,95 triệu lượt, tăng 23%), mang lại tổng doanh thu 70.958 tỷ đồng (tăng 15% so với cùng kỳ). Sự phát triển vượt bậc này gắn liền với sự gia tăng nhanh chóng của hơn 700 doanh nghiệp lữ hành quốc tế trên địa bàn, chiếm trên 40% tổng số doanh nghiệp lữ hành quốc tế của cả nước.

Sự bùng nổ về quy mô và tính chất đa dạng của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế đặt ra nhiều thách thức gay gắt cho công tác quản lý chuyên ngành, từ khâu thẩm định cấp phép, quản lý hướng dẫn viên, giám sát chất lượng tour tuyến đến kiểm soát rủi ro và xử lý vi phạm pháp luật. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước của Sở Du lịch Hà Nội đối với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế trong giai đoạn từ tháng 9/2015 đến tháng 6/2018, đồng thời định hình các giải pháp chiến lược hướng tới năm 2020 và giai đoạn tiếp theo. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc chuẩn hóa quy trình điều hành hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch từ mức 4 điểm của Việt Nam theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiệm cận các nước trong khu vực, và đảm bảo mục tiêu tăng trưởng doanh thu du lịch Thủ đô đạt 10-15%/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của Lý thuyết quản lý công hiện đại (New Public Management) và Lý thuyết điều tiết kinh tế của nhà nước (State Economic Regulation Theory). Lý thuyết quản lý công hiện đại nhấn mạnh việc chuyển đổi vai trò của cơ quan quản lý nhà nước từ can thiệp trực tiếp, hành chính hóa sang kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, phục vụ và hỗ trợ doanh nghiệp. Trong khi đó, lý thuyết điều tiết kinh tế khẳng định sự cần thiết phải thiết lập hành lang pháp lý, quy chuẩn kỹ thuật và các chế tài kiểm soát thị trường nhằm khắc phục các khuyết tật của kinh tế thị trường trong hoạt động du lịch như cạnh tranh không lành mạnh, tour giá rẻ kém chất lượng hay gian lận thương mại.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm:

  • Quản lý nhà nước về du lịch: Hoạt động thực thi quyền lực công của cơ quan hành chính có thẩm quyền thông qua hệ thống pháp luật, chiến lược, quy hoạch nhằm định hướng, điều tiết và kiểm soát toàn diện các chủ thể du lịch.
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế: Tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch phục vụ khách du lịch quốc tế đến Việt Nam (Inbound) và khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài (Outbound) theo quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật Du lịch năm 2017 (thay thế Luật Du lịch năm 2005).
  • Công cụ quản lý nhà nước chuyên ngành: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bộ máy tổ chức, quy hoạch phát triển, quy trình thẩm định cấp phép, chính sách hỗ trợ xúc tiến và công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu thực chứng:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 2013-2017 của Tổng cục Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (giai đoạn trước tháng 9/2015), Sở Du lịch Hà Nội, các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 06-NQ/TU của Thành ủy Hà Nội và Quyết định số 45/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Dữ liệu sơ cấp): Khảo sát trực tuyến được tiến hành với cỡ mẫu 120 cán bộ quản lý và chủ doanh nghiệp lữ hành quốc tế đang hoạt động trên địa bàn 12 quận, huyện trọng điểm của Hà Nội. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo loại hình doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh) đã thu về 85 phiếu trả lời hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 70,8%.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp đại diện lãnh đạo Phòng Quản lý Lữ hành thuộc Sở Du lịch Hà Nội cùng 9 giám đốc điều hành các doanh nghiệp lữ hành quốc tế tiêu biểu trên địa bàn Thủ đô.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm, phân tích tổng hợp và đối chiếu kinh nghiệm quốc tế (từ Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan - TAT, Cục Du lịch Quốc gia Trung Quốc, Cục Xúc tiến Du lịch Malaysia và Tổng cục Du lịch Singapore - STB). Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu thực địa được tiến hành trong mốc thời gian từ tháng 9/2015 đến tháng 6/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu thực tế mang lại 4 phát hiện quan trọng về hệ thống doanh nghiệp lữ hành và năng lực quản trị của Sở Du lịch Hà Nội:

  1. Sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô doanh nghiệp: Giai đoạn 2013-2017, số lượng doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Hà Nội tăng từ 495 doanh nghiệp (năm 2013) lên 701 doanh nghiệp (năm 2017), tương ứng mức tăng trưởng 41,6%. Cơ cấu doanh nghiệp có sự phân hóa rõ nét: công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 403 doanh nghiệp (57,5%), công ty cổ phần có 293 đơn vị (41,8%), trong khi khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh) giữ nguyên ở mức 4 doanh nghiệp và doanh nghiệp tư nhân là 1 đơn vị. Tỷ trọng doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Hà Nội luôn chiếm trên 40% tổng số lượng của cả nước.

  2. Hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính được nâng cao: Kể từ khi thành lập riêng Sở Du lịch vào tháng 9/2015, hiệu suất xử lý hồ sơ hành chính đạt bước tiến lớn. Năm 2016, Sở đã giải quyết 1.064/1.275 hồ sơ, thẩm định 43 hồ sơ cấp phép lữ hành quốc tế, cấp 729 thẻ hướng dẫn viên quốc tế và 415 thẻ nội địa. Đến năm 2017, tổng số hồ sơ tiếp nhận tăng lên 1.992 bộ, đã giải quyết 1.922 hồ sơ (đạt tỷ lệ 96,5%), thụ lý 146 hồ sơ đề nghị cấp phép kinh doanh lữ hành quốc tế, cấp mới và đổi 1.189 thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế, 595 thẻ nội địa với tỷ lệ hồ sơ chậm tiến độ duy trì ở mức 0%.

  3. Sự tăng trưởng đồng bộ của các chỉ tiêu kinh tế du lịch: Doanh thu toàn ngành du lịch Thủ đô tăng từ 38.958 tỷ đồng (năm 2013) lên 70.958 tỷ đồng (năm 2017), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 16,8%/năm. Công suất sử dụng phòng bình quân toàn khối khách sạn tăng từ 57,70% (năm 2013) lên 59,71% (năm 2017), trong đó phân khúc khách sạn cao cấp 3 đến 5 sao đạt hiệu suất vượt trội xấp xỉ 70%.

  4. Áp lực quá tải bộ máy và bất cập trong công tác hậu kiểm: Bộ máy nhân sự của Phòng Quản lý Lữ hành thuộc Sở Du lịch Hà Nội còn mỏng so với quy mô quản lý hơn 700 doanh nghiệp và hàng nghìn hướng dẫn viên du lịch. Kết quả khảo sát cho thấy hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ chỉ mới bao phủ được khoảng 30-35% số lượng cơ sở kinh doanh mỗi năm, dẫn đến tình trạng một số doanh nghiệp hoạt động không đúng địa chỉ đăng ký, nợ đọng ký quỹ hoặc sử dụng hướng dẫn viên không có thẻ hành nghề.

Thảo luận kết quả

Thực trạng quản lý nhà nước tại Hà Nội phản ánh sự chuyển đổi tích cực từ mô hình quản lý phân tán sang quản lý chuyên sâu sau khi tách lập Sở Du lịch năm 2015. Việc ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU đã tạo tiền đề pháp lý vững chắc cho các hoạt động xúc tiến, quảng bá và hỗ trợ doanh nghiệp. Nếu biểu diễn dữ liệu bằng biểu đồ cột so sánh số lượng doanh nghiệp lữ hành giai đoạn 2013-2017 và bảng ma trận đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp, có thể thấy rõ sự cải thiện trong thủ tục cấp phép, nhưng điểm số về công tác tiếp nhận và phản hồi kiến nghị của doanh nghiệp vẫn còn dư địa cải thiện.

Nguyên nhân chính của các hạn chế xuất phát từ sự thiếu hụt công cụ quản lý số hóa đồng bộ và quy chế phối hợp liên ngành chưa đủ chặt chẽ giữa Sở Du lịch với các lực lượng như Quản lý thị trường, Công an xuất nhập cảnh và cơ quan Thuế. So sánh với kinh nghiệm của Thái Lan – nơi Cơ quan Du lịch Quốc gia (TAT) vận hành với ngân sách xúc tiến hàng năm trên 100 triệu USD cùng cơ chế phối hợp đa ngành tinh gọn, hay bài học quản lý của Singapore thông qua 6 kỳ quy hoạch chiến lược liên tục – Hà Nội cần chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức quản lý "tiền kiểm" nặng nề sang "hậu kiểm" minh bạch, dựa trên nền tảng dữ liệu số.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước của Sở Du lịch Hà Nội đối với các doanh nghiệp lữ hành quốc tế đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được thực thi đồng bộ:

  1. Hoàn thiện khung khổ pháp lý và quy chuẩn quản lý chuyên ngành: Sở Du lịch Hà Nội cần chủ trì rà soát, cụ thể hóa các điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế theo Luật Du lịch năm 2017, phối hợp cùng Sở Tư pháp ban hành cẩm nang hướng dẫn thực thi pháp lý cho 100% doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn, phấn đấu rút ngắn 20% thời gian xử lý thủ tục hành chính trong giai đoạn 2018-2020.

  2. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa và cổng dịch vụ công trực tuyến: Đầu tư phát triển hệ sinh thái quản lý du lịch thông minh, tích hợp quản lý hồ sơ của hơn 700 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hơn 2.000 hướng dẫn viên du lịch trên nền tảng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Mục tiêu đến năm 2020 đạt 100% dữ liệu doanh nghiệp được số hóa, hỗ trợ tra cứu và giám sát ký quỹ ngân hàng theo thời gian thực.

  3. Nâng cao năng lực bộ máy và phát triển nguồn nhân lực thanh tra: Kiện toàn cơ cấu tổ chức của Sở Du lịch Hà Nội theo Quyết định 45/2016/QĐ-UBND, tăng cường tối thiểu 25-30% biên chế chuyên trách cho Phòng Quản lý Lữ hành và Thanh tra Sở. Định kỳ hàng năm tổ chức 2-3 khóa đào tạo nâng cao nghiệp vụ quản lý lữ hành hiện đại, ngoại ngữ và kỹ năng điều tra thị trường cho 100% cán bộ, công chức.

  4. Thiết lập cơ chế kiểm tra liên ngành và liên kết vùng: Thành lập tổ công tác liên ngành thường trực gồm Sở Du lịch, Công an thành phố, Cục Thuế và Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội nhằm tổ chức kiểm tra định kỳ tối thiểu 2 đợt/năm, xử lý triệt để các hành vi kinh doanh lữ hành không phép, tour 0 đồng và tranh chấp thương mại, bảo vệ môi trường du lịch an toàn, văn minh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, phục vụ thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại các Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Cung cấp mô hình tổ chức bộ máy, quy trình thẩm định cấp phép và kinh nghiệm phân cấp quản lý chuyên ngành lữ hành tại các đô thị đặc biệt.
  • Chủ doanh nghiệp và giám đốc điều hành các công ty lữ hành quốc tế: Giúp nắm vững các quy định pháp lý tại Luật Du lịch 2017, hiểu rõ tiêu chuẩn ký quỹ ngân hàng, điều kiện người phụ trách kinh doanh và quyền nghĩa vụ pháp lý để chủ động chuẩn hóa vận hành doanh nghiệp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Du lịch, Quản lý công: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với chuỗi dữ liệu thực chứng 2013-2017, khung lý thuyết quản lý điều tiết và phương pháp luận khảo sát doanh nghiệp chuẩn mực.
  • Hiệp hội Du lịch và các đơn vị tư vấn chính sách: Nguồn cứ liệu thực tiễn tin cậy phục vụ công tác phản biện chính sách, xây dựng các chương trình liên kết công - tư (PPP) và xúc tiến thị trường du lịch quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Luận văn tiếp cận công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế dưới góc độ nào?
Luận văn tiếp cận dưới góc độ quản lý hành chính - kinh tế học chuyên ngành, phân tích vai trò kiến tạo và điều tiết của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh (Sở Du lịch Hà Nội) thông qua các công cụ pháp luật, thẩm định cấp phép, quản lý hướng dẫn viên và thanh tra giám sát trên tập dữ liệu thực tế 701 doanh nghiệp.

Câu hỏi 2: Việc thành lập Sở Du lịch Hà Nội vào tháng 9/2015 mang lại ý nghĩa đột phá gì?
Sự kiện tách lập Sở Du lịch theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố khóa XIV đã chấm dứt tình trạng quản lý phân tán, giúp chuyên môn hóa bộ máy chỉ đạo, trực tiếp nâng tỷ lệ giải quyết hồ sơ hành chính đạt 96,5% trong năm 2017 và thúc đẩy doanh thu du lịch tăng trưởng 15% mỗi năm.

Câu hỏi 3: Điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế theo Luật Du lịch 2017 có điểm gì mới cần lưu ý?
Luật Du lịch 2017 (Điều 31) quy định doanh nghiệp phải thành lập hợp pháp, thực hiện ký quỹ kinh doanh lữ hành quốc tế tại ngân hàng thương mại và người phụ trách kinh doanh phải có trình độ từ cao đẳng chuyên ngành lữ hành trở lên hoặc có chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch quốc tế tương đương.

Câu hỏi 4: Những kinh nghiệm quốc tế nào được rút ra để áp dụng cho du lịch Hà Nội?
Nghiên cứu đúc kết 3 bài học lớn: mô hình cơ quan xúc tiến độc lập chuyên nghiệp với ngân sách lớn từ Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan (TAT), chính sách phát triển sản phẩm theo chuyên đề năm của Trung Quốc, và chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia dài hạn thông qua quy hoạch nhiều giai đoạn của Singapore.

Câu hỏi 5: Đóng góp thực tiễn nổi bật nhất của công trình nghiên cứu là gì?
Luận văn đã hệ thống hóa bức tranh toàn diện về 701 doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Hà Nội, chỉ ra khoảng trống về năng lực thanh tra hậu kiểm của cơ quan quản lý và đưa ra bộ 4 giải pháp khả thi gắn liền với quy trình số hóa dịch vụ công đến năm 2020.

Kết luận

Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước của Sở Du lịch Hà Nội đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu lý luận và thực tiễn:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng phát triển của 701 doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Hà Nội giai đoạn 2013-2017, gắn liền với mức doanh thu 70.958 tỷ đồng của du lịch Thủ đô.
  • Phân tích thẳng thắn những hạn chế trong bộ máy quản lý, nhân lực thanh tra và cơ chế điều phối liên ngành tại Sở Du lịch Hà Nội.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, kết hợp chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế, số hóa dịch vụ công và tăng cường phối hợp liên ngành.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn mực cho công tác hoạch định chính sách du lịch của thành phố Hà Nội giai đoạn 2020-2030.

Để hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương triển khai số hóa hệ thống quản trị, chuẩn hóa chất lượng nhân lực và hoàn thiện môi trường kinh doanh du lịch đẳng cấp quốc tế.