CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG 1.1 Cơ sở lý luận đối với hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông 1.1 Khái niệm kết cấu hạ tầng giao thông Hạ tầng giao thông là các công trình, vật kiến trúc, thiết bị và các công trình phụ trợ khác phục vụ cho vận tải hàng hoá, hành khách và sự đi lại của nhân dân một cách an toàn, thuận tiện, nhanh chóng. Hệ thống KCHTGT được phân làm 5 chuyên ngành: Đường bộ; Đường sắt; Đường thủy nội địa; Hàng hải; Hàng không. Đặc trưng của KCHTGT là có tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ phận có sự gắn kết hài hoà với nhau tạo thành một thể vững chắc đảm bảo cho phép phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống. Các công trình KCHTGT có quy mô lớn và chủ yếu ở ngoài trời, bố trí rải rác trên phạm vi cả nước, chịu ảnh hưởng nhiều của tự nhiên.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông Khái niệm hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra.
Sự biểu hiện bằng tiền với tất cả các nguồn lực đã bỏ ra gọi là vốn đầu tư. Trong các kết quả đạt được có thể là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực tăng thêm. Các kết quả đã đạt được của đầu tư đem lại góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Như vậy, nếu xem xét trên góc độ đầu tư thì đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có.
4 Đặc điểm của hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông Một là, hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông luôn đòi hỏi một lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vòng quay của nguồn vốn đầu tư rất dài, chi phí sử dụng vốn là cái giá phải trả cho hoạt động đầu tư này. Vì vậy việc ra quyết định đầu tư là rất quan trọng, nếu quyết định sai sẽ làm lãng phí khối lượng vốn lớn và không phát huy hiệu quả đối với nền kinh tế xã hội. Hai là, hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông có tính dài hạn thể hiện ở: Thời gian thực hiện đầu tư kéo dài nhiều năm tháng và thời gian vận hành kết quả đầu tư để thu hồi vốn rất dài.
Để tiến hành hoạt động đầu tư phải hao phí một khoảng thời gian lớn để nghiên cứu cơ hội đầu tư, lập dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật thi công, tiến hành thực hiện đầu tư trên thực địa cho đến khi các kết quả của nó phát huy tác dụng. Ba là, hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông là rất lớn, có giá trị trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng về không gian và thời gian. Bốn là, do các công trình hạ tầng giao thông được đầu tư cho mục đích công cộng giá trị đầu tư lớn, thời gian xây dựng lâu, nhưng khoản thu từ công trình là phí sử dụng lại ít, hiệu quả kinh tế mang lại cho nhà đầu tư không cao, khó thu hồi vốn nên không hấp dẫn các nhà đầu tư cá nhân. Năm là, đầu tư KCHTGT mang tính xã hội hóa cao, khó thu hồi vốn nhưng đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, xã hội.
Tuy hoạt động đầu tư xây dựng KCHTGT không đem lại lợi ích trực tiếp cho chủ đầu tư nhưng lợi ích mà nền kinh tế xã hội được hưởng thì không thể định lượng được, có thể coi hoạt động đầu tư này là đầu tư cho phúc lợi xã hội, phục vụ nhu cầu của toàn thể cộng đồng. Sáu là, sản phẩm đầu tư KCHTGT là một loại hàng hóa công cộng, yêu cầu giá trị sử dụng bền lâu nhưng lại do nhiều thành phần tham gia khai thác sử dụng. Vì vậy nhà nước cần tăng cường quản lý chặt chẽ các giai đoạn hình thành sản phẩm để tạo ra các công trình tiêu chuẩn, chất lượng, đảm bảo an toàn. 5 Bảy là, đầu tư KCHTGT có tính rủi ro cao do chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, pháp luật.
Vai trò của hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông Giao thông nói chung là sản phẩm của quá trình sản xuất hàng hoá, ngược lại giao thông lại là điều kiện để sản xuất hàng hoá phát triển. Do đó, giữa yêu cầu phát triển của giao thông và sản xuất hàng hoá thì giao thông phải được xây dựng và phát triển trước so với sản xuất hàng hoá. Song để phát triển nhanh giao thông trước hết phải đầu tư xây dựng và củng cố KCHTGT. KCHTGT vận tải có vai trò nền móng là tiền đề vật chất hết sức quan trọng cho mọi hoạt động vận chuyển, lưu thông hàng hoá.
Nếu không có một hệ thống đường giao thông đầy đủ, đảm bảo tiêu chuẩn thì các phương tiện vận tải sẽ không thể hoạt động tốt. Vì vậy chất lượng của các công trình hạ tầng giao thông là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động vận tải nói riêng và ảnh hưởng đến sự phát triển của nền sản xuất kinh tế- xã hội nói chung. Một xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng tăng đòi hỏi cơ sở hạ tầng giao thông phải được đầu tư thích đáng cả về lượng lẫn về chất. Đầu tư xây dựng mạng lưới giao thông vững mạnh là cơ sở nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững cho cả một hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội của một quốc gia.
Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng cấu thành nên kết cấu hạ tầng của một nền kinh tế, góp phần tạo mối liên kết hữu cơ giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế- xã hội. Nhờ đó thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá giữa các vùng trong cả nước. Đồng thời, đó là xu thế tất yếu của một xã hội đang phát triển với tốc độ đô thị hoá cao.3 Các hình thức huy động, đặc điểm nguồn vốn đầu tư xây dựng KCHTGT Nguồn vốn đầu tư Tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông được hình thành từ 5 nguồn đó là: Vốn ngân sách nhà nước (bao gồm của nguồn vốn vay ODA, vốn viện trợ, tài trợ); Vốn tín dụng đầu tư; Vốn do các doanh nghiệp nhà nước đầu tư; Vốn đầu tư trong dân cư và tư nhân; Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. 6 Nguồn vốn đầu tư từ NSNN bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư.
Đây là nguồn vốn đầu tư chiếm tỷ trọng lớn, đóng vai trò hết sức quan trọng, tạo dựng nền tảng và điều kiện ban đầu để thu hút các nguồn vốn khác tập trung cho đầu tư phát triển hạ tầng giao thông. Vốn tín dụng nhà nước được dùng để tài trợ toàn bộ hoặc tài trợ một phần cho các công trình kinh tế quan trọng, có hiệu quả và khả năng thu hồi vốn lớn. Nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước là từ vốn khấu hao cơ bản của các doanh nghiệp, trích lợi nhuận sau thuế cho đầu tư phát triển và một phần tự vay từ các tổ chức tín dụng. Vốn đầu tư trong dân cư và tư nhân đang ngày một tăng theo xu hướng xã hội hóa lĩnh vực giao thông vận tải nhưng còn hạn chế trong việc đầu tư.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hầu như chỉ đầu tư vào các lĩnh vực đem lại lợi nhuận cao và nhanh chóng thu hồi vốn nhưng không chú trọng đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng giao thông. Đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông Khác với vốn đầu tư cho các lĩnh vực khác, vốn đầu tư xây dựng KCHTGT có những đặc điểm riêng. Những đặc điểm đó là: Một là, vốn đầu tư xây dựng KCHTGT có quy mô lớn và thời gian thu hồi dài, thậm chí không thể thu hồi được. Các công trình này đều cần lượng vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn dài.
Hai là, vốn đầu tư trong phát triển KCHTGT thường có độ rủi ro cao, phụ thuộc vào các phương thức, thời gian và chính sách huy động vốn như rủi ro về lãi suất, lạm phát và thay đổi trong chính sách của nhà nước, thiên tai. 7 Ba là, vốn đầu tư trong xây dựng KCHTGT thường đầu tư theo các dự án phát triển và được huy động từ nhiều nguồn. Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư cho phát triển KCHTGT chủ yếu dựa vào NSNN do mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài, hiệu quả thấp nên khó thu hút các nguồn vốn tư nhân. Bốn là, hiệu quả vốn đầu tư xây dựng KCHTGT là hiệu quả kinh tế- xã hội tổng hợp.
KCHTGT là sản phẩm công ích và là tài sản do nhà nước quản lý nên việc tính toán hiệu quả của vốn đầu tư cần được xét đến hiệu quả kinh tế xã hội mà vốn đầu tư đó mang lại.2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được.