Chương 1. Khái quát chung về quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp. Thực trạng quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2014 – 2019. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về khu công nghiệp: 1. Khái niệm về khu công nghiệp: Trên thế giới loại hình KCN đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay bắt đầu từ những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapore,… và hiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa. Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về KCN được thừa nhận chung.
Tùy điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất và đặc trưng của KCN. Các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về KCN. - Ở Indonesia, theo sắc lệnh của Tổng thống Cộng hòa Indonesia số 98/1993 thì KCN được định nghĩa: “ Là khu vực tập trung các hoạt động chế tạo công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất và các phương tiện hỗ trợ khác cho công ty KCN cung cấp và quản lý”. Ở đây, “Công ty KCN là các công ty có tư cách pháp nhân được thành lâp theo luật của Indonesia và ở trên lãnh thổ Indonesia, với chức năng quản lý nhà nước đối với các KCN”.
- Theo các chuyên gia của tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO ): “KCN là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hoá và hoặc tiêu thụ nội địa), miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề, một phần đất nằm trong KCN có thể dành cho 33 khu chế xuất”. - Tại Việt Nam, theo Điều 2, Nghị định 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ “Quy định về quản lý KCN và KKT”, theo đó: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản 6 xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục do Chính phủ quy định”. Như vậy, cách hiểu về KCN theo quy định của Việt Nam khá gần với quan niệm của UNIDO do đều nhấn mạnh và làm rõ đặc trưng về kinh tế, phạm vi không gian và tính liên kết trong đầu tư. Mặc dù có những quan điểm khác nhau về KCN, nhưng chúng vẫn có những đặc trưng cơ bản sau: - Thứ nhất, KCN là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời của một quốc gia, thường là những khu vự địa lý riêng biệt thích hợp, có hàng rào giới hạn với các vùng, lãnh thổ còn lại của nước sở tại và được chính phủ nước đso cho phép hoặc rút phép xây dựng và phát triển.
- Thứ hai, KCN là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và mục tiêu xác định giữa chủ đầu tư và nước chủ nhà. KCN là nơi có môi trường kinh doanh đặc biệt phù hợp, được hưởng những quy chế tự do, các chính sách ưu đãi kinh tế ( đặc biệt là thuế quan ) so với các vùng khác ở nội địa. Chúng là nơi cso vị trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, thương mại dịch vụ, đầu tư trên cơ sở các chính sách ưu đãi về cơ sở hạ tầng, cơ chế pháp lý, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính, chính sách tài chính – tiền tệ, môi trường đầu tư, … - Thứ ba, KCN là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về ưu tiên chính sách hướng ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài, phát triển các loại hình kinh doanh sản xuất, phục vụ xuất khẩu. Đây là mô hình thu nhỏ về chính sách KT – XH mở cửa của một đất nước.
Đặc điểm và vai trò kinh tế - xã hội của khu công nghiệp: 1. Đặc điểm của khu công nghiệp: Từ khái niệm chung nhất về KCN, có thể rút ra một số các đặc điểm cơ bản của KCN như sau: - KCN là một phần lãnh thổ của nước sở tại, được xây dựng vơi một kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng cần khoản kinh phí lớn, thời gian thu hồi vốn lại khá lâu, do đó cần phải có sự tham gia của Nhà 7 nước đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp qua các thành phần kinh tế khác. - KCN là một khu vực tập trung các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghiệp trong một phạm vi nhất định.
Các doanh nghiệp trong KCN về cơ bản vẫn phải chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật của nước ở tại. Bên cạnh đó, còn được hưởng một số quy chế đặc thù của Nhà nước, các quy chế này thể hiện sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. - KCN thường được xây ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi như gần đường giao thông, thuận tiện giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn, gần cảng biển, cảng sông, sân bay, … Ngoài ra các KCN còn đòi hỏi phải có diện tích khác lớn, tập trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp cho xây dựng các công trình công nghiệp, gần nguồn nước, có cơ sở hạ tầng thích hợp. - KCN là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp.
Các nguồn lực của nước sở tại, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước tập trung vào một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào phát triển cơ cấu, những ngành nghề mà nước sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư. Bên cạnh đó thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội tốt tạo thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh hàng hóa cho các khu vự khác. - Lực lượng lao động làm việc trong KCN tương đối lớn nên kèm theo đó nhiều vấn đề xã hội phát sinh, ví dụ như vấn đề nhà ở, vấn đề giáo dục, y tế. Vai trò kinh tế - xã hội của khu công nghiệp: KCN có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Vai trò của KCN được thể hiện ở những điểm sau: - Thứ nhất, KCN là nơi thu hút nguồn vốn đầu tư lớn trong và ngoài nước để phát triển nền kinh tế. KCN với đặc điểm là nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại và thu hút các nhà đầu tư cùng đầu tư trên một vùng không gian lãnh thổ, do vậy đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài 8 nước. Với quy chế quản lý thống nhất và các chính sách ưu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa việc phát trển các KCN cũng phù hợp với chiến lược kinh doanh của tập đoàn, công ty đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ưu đãi thuế quan từ phía nước chủ nhà, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trường mới ở các nước đang phát triển.
Do vây, KCN giúp cho việc tăng cường huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho phát triển kinh tế xã hội và là đầu mối quang trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và là giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng giúp quốc gia thực hiện và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặt khác sự hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã tác động tích cực, thúc đẩy sự lưu thông và hoạt động của đồng vốn trong nước. - Thứ hai, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu và giảm chi ngoại tệ và góp phần tăng nguồn thu ngân sách.
Sự phát triển của các KCN có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Hàng hóa sản xuất ra từ các KCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số lượng hàng hóa xuất khẩu của địa phương và cả nước. Khi các KCN mới bắt đầu đi vào hoạt động, lúc này nguồn thu ngoại tệ của các KCN chưa đảm bảo vì doanh nghiệp phải dùng số ngoại tệ thu được để nhập khẩu công nghệ, dây chuyền, máy móc thiết bị, … nhưng cái lợi thu được là nhập khẩu nhưng không mất ngoại tệ. Khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất ổn định, có hiệu quả thì lúc đó nguồn thu ngoại tệ bắt đầu tăng lên nhờ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN.
Ngoài ra, hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua việc cung ứng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp chế xuất hoạt động trong KCN và việc một số doanh nghiệp chế xuất tổ chức gia công một số chi tiết, phụ tùng, một số công đoạn tại các doanh nghiệp trong nước góp phần vào quá trình nội 9 địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm của doanh nghiệp. Ngoài ra, các KCN cũng đóng góp đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương và đóng góp chung cho nguồn thu của quốc gia. - Thứ ba, tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, phương pháp quản lý hiện đại và kích thích sự phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp trong nước. Việc tiếp cận và vận dụng linh hoạt kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào điều kiện cụ thể của từng quóc gia là một trong những giải pháp mà các nước đang phát triển áp dụng nhằm rút ngắn thời gian của quá trình công nghiệp hóa.
Cùng với sự hoạt động của các KCN, một lượng không nhỏ các kỹ thuật công nghệ tiên tiến, dây chuyền sản xuất đồng bộ, kỹ năng quản lý hiện đại,… đã được chuyển giao và áp dụng thành công trong các ngành công nghiệp.