Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO 1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo 1. Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước Quản lý “là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước”.
Quản lý nhà nước: “Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó có quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội xuất hiện từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa. Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của nhà quản lý và quy luật khách quan”. Hiện nay, khái niệm QLNN có thể hiểu theo hai nghĩa: - Về nghĩa rộng: “Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và các hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng nhà nước đối với xã hội”.
- Về nghĩa hẹp: “Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp)”. Khái niệm về tôn giáo và hoạt động tôn giáo Khái niệm tôn giáo: Tôn giáo ra đời cách đây hơn 45. Khái niệm tôn giáo bắt nguồn từ thuật ngữ “Religion” (tiếng Anh) và “legere” 9 (tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Bởi lẽ, đương thời những đạo khác Kitô đều bị coi là tà đạo.
Đến thế kỷ XVI, với sự ra đời của đạo Tin Lành, tách ra từ Công giáo, “Religion” trở thành một thuật ngữ chỉ hai tôn giáo thờ cùng một chúa. “Theo các nhà thần học tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”. “Theo một số nhà tâm lý học tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo” Theo C.Mác, xét về khía cạnh bản chất xã hội “tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” Theo Ph.Ăngghen, xét khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo “tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày…”. Nghiên cứu về tôn giáo, với quan điểm duy vật biện chứng, Ăngghen đã kết luận một cách khoa học về tôn giáo như sau: Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu nhiên trần thế.
Ở phương Đông, đầu thế kỷ thứ XVIII, thuật ngữ “Religion” du nhập vào Nhật Bản và được dịch thành “Tông giáo”, rồi từ đó du nhập sang Trung Quốc. Nhưng ở Trung Quốc, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý nghĩa hoàn toàn khác, nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: là lời thuyết giảng của Đức Phật; Tông: lời của các đệ tử Đức Phật). “Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi là Tôn giáo”. Cho đến ngày nay, khái niệm này được quy định tại khoản 5, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2018 như sau: “Tôn giáo là 10 niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt đông bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [16, tr.
Khái niệm sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo: Hoạt động là khái niệm dùng để chỉ những việc làm cụ thể, có mục đích của một cá nhân hay một tập thể nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của con người. Khoản 10, 11, Điều 2, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã khẳng định: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo. Sinh hoạt tôn giáo là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo”. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo Khái niệm QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo “là quá trình nhà nước dùng quyền lực của mình thông qua pháp luật tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý”.
Học thuyết Mác - Lê nin khẳng định pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. Pháp luật là một công cụ sắc bén để quản lý xã hội, quản lý nhà nước, vì vậy, các nhà nước trong lịch sử luôn quan tâm xây dựng những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của giai cấp thống trị và các chủ thể khác. Ở nước ta, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là nguyên tắc mang tính Hiến định, Điều 8, Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình QLNN đối với hoạt động tôn giáo, nhà nước cần ban hành pháp luật để điều chỉnh.
Pháp luật QLNN đối với hoạt động tôn giáo bao gồm tổng thể các văn bản quy phạm 11 pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có chứa đựng các quy phạm pháp luật về QLNN đối với tôn giáo. Như vậy, pháp luật về QLNN đối với tôn giáo là tổng hợp các quy tắc xử sự chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Từ những lập luận trên, chúng ta có thể hiểu QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo như sau: QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh có mục đích của các cơ quan QLNN làm cho các quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với tôn giáo đi vào cuộc sống, trở thành những hành động thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật nhằm phát huy tính tình chủ động trong thực hiện pháp luật, phòng ngừa và xử lý nghiêm khắc các vi phạm pháp luật để tôn giáo hoạt động theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xa hội chủ nghĩa. Điều 24, HP 2013 khẳng định “Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” Nội dung của quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo có thể chia làm ba nội dung lớn: Thứ nhất, quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động có tính chất quản lý tổ chức tôn giáo, bao gồm: “đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo; công nhân tổ chức tôn giáo; thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành; thành lập, giải thể cơ sở đào tạo tôn 12 giáo; trình tự thủ tục, thẩm quyền chấp thuận thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo; mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo; hướng dẫn chương trình, nội dung giảng dạy môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam”. Hai là, QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động mang tính lễ nghi tôn giáo và các hoạt động xã hội khác của các tổ chức tôn giáo, bao gồm: “thông báo danh mục hoạt động tôn giáo; hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt đông tôn giáo; cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp; sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; hoạt động tôn giáo, hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam; tham gia hoạt đông tôn giáo, đào tạo tôn giáo ở nước ngoài; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài; hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo; hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ; gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài; đất cơ sở tôn giáo; cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tôn giáo; di dời công trình tôn giáo”.
Ba là, quản lý về tôn giáo; trách nhiệm quản lý Nhà nước về tôn giáo; thanh tra chuyên ngành về tôn giáo; “khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về tôn giáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực tôn giáo”. Đặc điểm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo Chủ thể quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo là UBND từ thị xã đến xã, phường. Đối tượng quản lý là các tôn giáo trên địa bàn thị xã Gò Công, Tỉnh Tiền Giang.