CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA CỦA NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM 1. Giới thiệu chung về nguồn vốn ODA 1. Nguồn gốc lịch sử của nguồn vốn ODA Sau đại chiến thế giới thứ II các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiệm ưu đãi cho các nước đang phát triển. Tại Hội nghị về tài chính - tiền tệ tổ chức tháng 07 năm 1944 tại Bretton Woods (Mỹ), tổ chức tài chính quốc tế Ngân hàng Thế giới (WB - World Bank) đã được thành lập với mục tiêu là thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng trưởng phúc lợi của các nước với tư cách như là một tổ chức trung gian về tài chính, một ngân hàng thực sự với hoạt động chủ yếu là đi vay theo các điều kiện thương mại bằng cách phát hành trái phiếu để rồi cho vay tài trợ đầu tư tại các nước.
Năm 1947, Mỹ triển khai kế hoạch Marshall, viện trợ ồ ạt cho các nước Tây Âu nhằm hỗ trợ các nước này tái thiết lại các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá. Đến năm 1951, viện trợ của Mỹ đã lên tới 12 tỷ USD (tương đương 2,2% GDP của thế giới và 5,6% GDP của Mỹ lúc bấy giờ). Mặc dù mục tiêu chính của các khoản viện trợ này là chính trị nhưng không thể phủ nhận rằng nó đã có tác dụng nhất định giúp các nước tiếp nhận phát triển kinh tế xã hội. Đến năm 1960, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nước đang và kém phát triển cùng với nhận thức thay đổi của các nước phát giàu đối với sự phát triển của các nước nghèo, các nước châu Âu đã đưa ra một chương trình phục hồi kinh tế có phối hợp và thành lập một tổ chức hợp tác kinh tế của châu Âu.
Ngày 14/12/1960, tại Paris đã diễn ra lễ ký kết thành lập Tổ chức Hợp tác và 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển Kinh tế (OECD - Organisation for Economic Co-operation and Development). Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển, OECD đã lập ra các ủy ban chuyên môn, trong đó có Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC - Development Assistance Committee). Ủy ban này có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém phát triển. Kể từ khi bản báo cáo đầu tiên của DAC ra đời vào năm 1961, thuật ngữ ODA chính thức được sử dụng và mới thực sự trở nên phổ biến và quốc tế hóa.
Từ sự thỏa thuận của các nước phát triển sau Chiến tranh Thế giới thứ II về viện trợ cho các nước đang phát triển, sự hỗ trợ của các nước phát triển cho phát triển kinh tế ở các nước nghèo không còn mang tính tự giác nữa mà đã mang tính chất bắt buộc. Theo nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1970, các nước giàu hàng năm cần phải trích 0,7% tổng sản phẩm quốc dân (GNP – Gross National Product) của mình để thực hiện nghĩa vụ đối với các nước nghèo thông qua hình thức ODA và đến năm 2000 phải nâng tỉ lệ đó lên 1% GNP. Tuy nhiên trên thực tế, cho đến nay, các nước công nghiệp phát triển lại thực hiện nghĩa vụ này rất khác nhau. Chẳng hạn tính bình quân từ 1960 đến 1985, có một số nước thực hiện mức quy định như Pháp là 0,78% GNP; Hà Lan là 0,9%; GNP; Thụy Điển là 0,86% GNP; Đan Mạch là 0,8% GNP; đặc biệt là Na Uy đóng góp trên 1,03% GNP.
Ngược lại các nước như Mỹ, Đức, Italia, Canada… chỉ đóng góp ở mức bình quân từ 0,24% GNP đến tối đa là 0,54% GNP. Như vậy, tuỳ theo mức độ phát triển của nền kinh tế các nước hàng năm và tuỳ thuộc vào các mối bang giao mang tính “chiến lược” giữa các quốc gia cung cấp và tiếp nhận ODA mà bên tài trợ đưa ra mức tài trợ ODA hàng năm. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm nguồn vốn ODA Hỗ trợ phát triển chính thức hay viện trợ phát triển chính thức ODA là tên viết tắt của Oficial Development Assistance và là một hình thức đầu tư nước ngoài.
Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài, đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay. Hiện nay chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về Hỗ trợ phát triển chính thức mà mỗi chính phủ, mỗi tổ chức có thể đưa ra khái niệm về ODA theo cách riêng của mình.
Tuy nhiên có một số định nghĩa về ODA tương đối giống nhau và sát thực tiễn nhất, ví dụ như: Theo DAC thì ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay được ưu đãi, được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển, được các cơ quan chính thức của các chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ. ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành - được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế. DAC đưa ra khái niệm về ODA dưới góc độ của nhà tài trợ cho các nước đang và kém phát triển nhằm giúp các nước này phát triển kinh tế - xã hội thông qua các Hiệp định quốc tế.
Tuy nhiên, khái niệm này của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển quá chú trọng đến nguồn tài trợ song phương, phù hợp với thực tế là Ủy ban này là cơ quan chủ trì về viện trợ song phương của các nước thuộc OECD. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo WB thì ODA là một bộ phận của Quỹ Hỗ trợ Phát triển trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại phải chiếm ít nhất 25% trong tổng số viện trợ. WB đưa ra khái niệm về ODA bao gồm cả viện trợ song phương và đa phương, tuy nhiên khái niệm này nhấn mạnh đến khía cạnh tài chính của ODA (ODA là tập hợp con của Quỹ Hỗ trợ Phát triển Chính thức) mà không đề cập đến mục tiêu của ODA. Theo Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ thì Hỗ trợ phát triển chính thức được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ bao gồm: - ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho các nhà tài trợ.
- ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc; - ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc. Như vậy, Hỗ trợ phát triển chính thức ODA - đúng như tên gọi của nó là nguồn vốn từ các cơ quan chính thức bên ngoài cung cấp (hỗ trợ) cho các nước đang và kém phát triển, hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của các 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước này. Mặc dù thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau về ODA nhưng nói chung những quan điểm ấy đều có chung bản chất: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là hoạt động viện trợ đầu tư của một chính phủ hay một tổ chức Liên chính phủ cho chính phủ một nước khác giúp chính phủ nước đó giải quyết các vấn đề về phát triển kinh tế xã hội. Khác với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment), ODA là hoạt động đầu tư mà người sử dụng vốn đầu tư không phải là tư nhân mà là chính phủ; mục đích chính của ODA không phải là giành giật thị trường, doanh thu hay lợi nhuận cho nhà đầu tư, mà hoạt động này nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận; điều đó cho thấy ODA là hoạt động đầu tư mang tính chất công cộng.
Phân loại nguồn vốn ODA Để phân loại ODA, ta có thể dựa vào các tiêu chí sau: 1. Phân loại theo phương thức hoàn trả: ODA gồm 3 loại: - Viện trợ không hoàn lại: Là dạng viện trợ mà bên nhận không phải hoàn trả dưới bất kỳ hình thức nào, loại viện trợ này thường chiếm 25% tổng số vốn ODA. Tỷ lệ viện trợ phụ thuộc vào hoàn cảnh của nước nhận viện trợ và thường được thực hiện dưới các dạng cơ bản như: hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ bằng hiện vật. - Viện trợ có hoàn lại: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tùy theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp.
Khoản vay này được cân đối sao cho “yếu tố không hoàn lại” ít nhất đạt 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc và phải được hoàn trả lãi và gốc theo hiệp định ký kết giữa nước viện trợ và nước nhận viện trợ. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.