LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu Vốn ODA là hình thức hỗ trợ phát tri ển của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ có tính chất song phương hoặc đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội các quốc gia này. Thông qua các định chế tài chính thực hi ện việc quản lý và cho vay lại vốn ODA, nhiều quốc gia đã thu hút, vận động và sử dụng vốn ODA khá hiệu quả. Song không ít quốc gia đã để lại bài học không thành công về quản lý vốn ODA.
Việc quản lý nguồn vốn cho vay lại sao cho có hiệu quả, đảm bảo mục t iêu phát triển kinh tế, đồng thời hoàn trả nợ đúng thời hạn là vấn đề mang tính th ời sự hiện nay. Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) được thành lập trên cơ sở Quỹ Hỗ trợ Phát triển theo quyết định 108/2006/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/05/2006. Là một đơn vị cho vay chính sách phi lợi nhuận, với số vốn điều lệ 10 nghìn tỷ đồng, VDB có mục tiêu đóng góp vào quá trình xoá đói giảm nghèo thông qua các khoản vay cho các công trình xây dựng thuỷ lợi và giao thông nông thôn, xây dựng cơ sở hạ t ầng cho các làng nghề, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho các vùng sâu, vùng xa và hỗ trợ xuất khẩu. Theo đó, trong danh mục đầu tư cho vay bằng nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước thì đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt ở khu vực nông thôn bao gồm việc cho vay ưu đãi xây dựng công trình cấp nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt; công trình xử lý nước thải, rác thải; đầu tư hạ tầng, mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới và thiết bị trong lĩnh vực xã hội hóa.
Để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội đượ c Chính phủ giao phó, ngoài các nguồn vốn tiếp nhận từ các tổ chức trong và ngoài nước, Ngân hàng nhận ủy thác quản lý ODA được Chính phủ cho vay lại, trong đó, phạm vi quản lý lên đến 60% tổng ODA cho vay lại trong cả nước. Bên cạnh những nỗ lực cũng như thành công của Ngân hàng trong hoạt động quản lý và cho vay lại vốn ODA với nhiều chương 2 trình, dự án, không thể không đề cập đến nhiều vấn đề còn tồn tại, vướng mắc như quá trình thẩm định dự án cho vay còn nhiều thiếu sót; tiến độ giải ngân chậm, chưa đáp ứng kịp tiến độ thực hiện dự án, thủ tục giải ngân còn rườm rà, phức tạp; việc giám sát dự án và tài sản đảm bảo vốn vay còn chưa chặt chẽ. Để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, nhất thiết phải đi từ tăng cường quản lý nguồn vốn, đảm bảo tính an toàn, hiệu quả. Nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn là một lĩnh vực quan trọng trong mục tiêu hoạt động của NHPT, đồng thời cũng là nội dung quan trọng trong các hạng mục tài trợ vốn ODA.
Vì các lý do nêu trên, đề tài " Tăng cường quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam " được chọn để nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu Cho đến nay đã có khá nhiều tác giả đề cập đến vấn đề sử dụng và cho vay lại vốn ODA ở các phạm vi nghiên cứu khác nhau. Một số công trình nghiên cứu có liên quan có thể kể đến là : Luận văn thạc sỹ (2009) “ Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam ” nghiên cứu tình hình sử dụng vốn ODA nói chung và của Tập đoàn Điện lực Việt Nam nói riêng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Luận văn thạc sỹ (2008) “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ” nghiên cứu cơ sở lý luận, đặc điểm, các tiêu thức đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Việt Nam; phân tích, đánh giá tình hình sử dụng nguồn vốn ODA tại Bộ LĐTB&XH; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ LĐTB&XH.
Luận văn thạc sỹ (2009) “Quản lý nguồn vốn ODA cho vay lại tại Sở Giao dịch III – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam " nghiên cứu khái quát nội dung quản lý nguồn vốn ODA cho vay lại tại một Ngân hàng thương mại, đánh giá 3 thực trạng quản lý nguồn vốn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn tại Sở Giao dịch III – Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam. Đặc biệt, chưa có công trình nghiên cứu nào toàn diện và có chiều sâu về tăng cường quản lý vốn ODA đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Ngân hàng có đặc thù là một ngân hàng chính sách, hoạt động phi lợi nhuận và là một công cụ thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội của Chính phủ). Vì thế, nghiên cứu này hoàn toàn không trùng lặp với các công trình nghiên cứu được thực hiện từ trước đến nay. Mục đích n ghiên cứu Trên cơ sở đánh giá tình hình tăng cường quản lý vốn ODA tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, luận văn đề xuất các giải pháp tiếp tục tăng cường quản lý nguồn vốn này đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.Đối tượng nghiên cứu Tăng cường quản lý vốn ODA tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam đối với các dự án được thụ hưởng trong lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng đi qua vùng nông thôn. Phạm vi nghiên cứu - Về mặt không gian, nghiên cứu được thự c hiện tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam. - Về mặt thời gian, nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn 2007 – 2013 và định hướng đến 2020. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để giải quyết vấn đề đặt ra.
Nguồn tài liệu được thu thập từ các số liệu báo cáo tại Hội Sở chính Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các báo cáo chính thức trên Website của các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Kết cấu của luận văn Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức tại Ngân hàng và kinh nghiệm. Chương 2: Thực trạng quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013. Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn tại Ngân hàng phát triển Việt Nam đến 2020.
5 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC TẠI NGÂN HÀNG VÀ KINH NGHIỆM 1. Tầm quan trọng của quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 1. Đặc điểm của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Hỗ trợ phát triển c hính thức (hay ODA), là một hình thức đầu tư nước ngoài , cụ thể đầu tư gián tiếp nước ngoài , là loại hình đầu tư quốc tế mà về bản chất, chủ đầu tư không trực tiếp chịu trách nhiệm về hiệu quả của việc đầu tư mà chỉ hưởng lãi suất theo tỉ lệ được công bố trước của số vốn mà họ đầu tư thông qua một đối tác nhất định ở nước khác. Gọi là “Hỗ trợ” vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài, vì vậy, đôi khi còn được hiểu là viện trợ; “Phát triển”: mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư; “Chính thức”: liên quan đến Nhà nước.
Theo cách hiểu chung nhất ODA là hình thức hợp tác phát triển giữa Chính phủ nước nhận tài trợ và các đối tác tài trợ nước ngoài, bao gồm các Chính phủ, các tổ chức quốc tế (UNDP, WB, IMF.), các tổ chức phi Chính phủ (sau đây gọi là nhà tài trợ). ODA được thực hiện thông qua việc cun g cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán. Theo tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đã đưa ra khái niệm ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) thì ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại cộng với các khoản vay có thời hạn dài và lãi suất thấp hơn so với mức lãi suất thị trường. Mức độ ưu đãi của một khoản vay được xác định thông qua thành tố cho không, hay còn được hiểu là viện trợ không hoàn lại. Khoản vay ưu đãi của ODA phải có thành tố cho không ít nhất là 25%. 6 Theo Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ thì ODA được định nghĩa như sau: “Hỗ trợ phát t riển chính thức được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”.
Dưới các giác độ khác nhau ODA được hiểu cũng khác nhau song có thể hiểu một cách chung nhất là nguồn hỗ trợ của các nước phát triển cho các nước đang phát triển nhằm giúp các nước này tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Với khái niệm chung nhất như vậy, ODA mang các đặc điểm của một ngu ồn vốn có nhiều tính chất ưu đãi, hỗ trợ cho người vay, cụ thể như sau: - ODA có tính chất ưu đãi: Với mục tiêu hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển hoặc kém phát triển, ODA mang tính ưu đãi hơn bất kỳ hình thức tài trợ nào khác.