phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về nguồn nhân lực điều dƣỡng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về nguồn nhân lực điều dƣỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về nguồn nhân lực điều dƣỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ƣơng. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƢỠNG 1.
Khái niệm liên quan đến đề tài luận văn 1. Nguồn nhân lực Cho tới vài thập kỷ gần đây, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách, chiến lƣợc của tất cả các quốc gia trên thế giới đều nhận ra rằng, nguồn lực tự nhiên dù có phong phú và giàu có đến mấy thì cũng sẽ bị cạn kiệt trƣớc sự khai thác của con ngƣời, chỉ có nguồn lực con ngƣời mới là nguồn tài nguyên vô tận và khai thác không bao giờ hết. Khái niệm nguồn nhân lực cho đến nay đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Nguồn nhân lực chính là nguồn lực của con ngƣời, gồm có thể lực và trí lực. Thể lực là dựa vào tình trạng sức khỏe của con ngƣời, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi.
Trí lực là nguồn tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, lòng tin và nhân cách của con ngƣời. Theo định nghĩa của Liên hợp quốc (LHQ) thì nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng [28]. Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB) thì nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Nhƣ vậy, nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn khác nhƣ tiền tệ, tài nguyên [28].
Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao đông [28]. 9 Theo các nhà quản trị học thì cho rằng nguồn nhân lực (NNL) là toàn bộ đội ngũ cán bộ, nhân viên trong tổ chức với tƣ cách vừa là khách thể trung tâm của các nhà quản trị, vừa là chủ thể hoạt động và là động lực phát triển của mọi tổ chức nói chung, của các doanh nghiệp nói riêng. Hay nói cách khác, nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa sau: Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là một bộ phận của dân số, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ từ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ đủ từ 15 tuổi đến hết 55 tuổi).
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sản xuất và cho sự phát triển của xã hội. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng. Tuy có các biểu hiện khác nhau nhƣng nguồn nhân lực của một quốc gia thƣờng có các đặc điểm quan trọng sau: Nguồn nhân lực chính là nguồn lực con ngƣời. Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số, là độ tuổi có khả năng lao động.
Nguồn nhân lực phản ánh đúng khả năng lao động của xã hội. Nhƣ vây, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động, là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời nhƣ thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời, là yếu tố cấu thành của lực lƣợng sản xuất và quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nguồn nhân lực y tế Nguồn nhân lực y tế bao gồm tất cả các viên chức hoạt động khác nhau trong lĩnh vực y tế nhƣ: Công tác khám, chữa bệnh, đào tạo, quản lý. Nhân 10 lực trong ngành y tế gồm các ngạch bác sỹ, dƣợc sỹ, điều dƣỡng, kỹ thuật viên, kỹ sƣ, công nhân hỗ trợ cho công tác khám chữa bệnh.
Năm 2006, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đƣa ra định nghĩa: Nhân lực y tế bao gồm tất cả những ngƣời tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế. Theo định nghĩa của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là nhân lực y tế sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm kể cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nhân lực y tế đƣợc coi là một phần rất quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lƣợng dịch vụ y tế.
Các lựa chọn của nhân viên y tế về sử dụng nguồn lực (nhƣ chỉ định xét nghiệm, kê đơn thuốc hoặc quy định về danh mục trang thiết bị ở các tuyến) sẽ ảnh hƣởng lớn đến tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống y tế. Hiện nay, ở Việt Nam trong ngành y tế đang tồn tại song song hai lĩnh vực y tế cùng cung cấp các dịch vụ y tế để đảm bảo sức khỏe cho nhân dân, đó là lĩnh vực y tế công và lĩnh vực y tế tƣ nhân. Lĩnh vực y tế công: Hệ thống y tế công lập gồm các cơ sở y tế đƣợc đầu tƣ bằng vốn trong ngân sách nhà nƣớc, hoạt động dƣới sự quản lý của Nhà nƣớc và tuân theo các quy định về quản lý nhà nƣớc của Chính phủ, của ngành. Lĩnh vực y tế tƣ nhân: Hệ thống y tế tƣ nhân bao gồm các cơ sở y tế đƣợc đầu tƣ bằng vốn ngoài ngân sách nhà nƣớc do tổ chức, cá nhân, hộ gia 11 đình, doanh nghiệp đóng góp và đăng ký kinh doanh, quản lý điều hành.
Hệ thống y tế tƣ nhân ra đời nhằm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân, đồng thời thực hiện chủ trƣơng xã hội hóa ngành y tế của Nhà nƣớc. Mặc dù vậy, hiện nay dƣới sự chỉ đạo của Chính phủ, ngành y tế đang thực hiện nhiều kế hoạch xã hội hóa, kế hoạch tự chủ theo nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ nhằm giảm bớt đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc cho ngành y tế, nhƣng ngƣời dân vẫn đƣợc tiếp cận các dịch vụ y tế cao, chất lƣợng y tế đƣợc đảm bảo. Dù ở lĩnh vự y tế công lập hay dân lập thì nhân viên y tế đều phải tuân thủ theo các quy định chuyên môn về khám chữa bệnh của Bộ Y tế. Hai lĩnh vực y tế trên đều đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống y tế quốc gia.
Tuy nhiên, ở luận văn này tôi chỉ tiến hành nghiên cứu nguồn nhân lực y tế trong khu vực công lập, đặc biệt đối tƣợng luận văn hƣớng tới là nguồn nhân lực điều dƣỡng trong khu vực công khi phân tích về thực trạng của ngành y tế. Nguồn nhân lực y tế có các đặc điểm sau: Thứ nhất, nhân lực y tế có đặc điểm riêng về đạo đức nghề nghiệp: Nghề y là một nghề cao quý, đƣợc xã hội tôn trọng trƣớc hết bởi vì có nhiệm vụ chữa bệnh cứu ngƣời, bảo vệ sự sống và nâng cao sức khỏe của nhân dân, đòi hỏi có những phẩm chất đặc biệt, đƣợc thể hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ hết lòng thƣơng yêu chăm sóc ngƣời bệnh, đấy chính là đạo đức y học – một bộ phận của đạo đức nghề nghiệp, là yêu cầu đặc biệt có liên quan đến hoạt động chăm sóc sức khỏe con ngƣời, đó là các quy tắc, chuẩn mực của ngành y tế, nhờ đó mà tất cả cán bộ ngành y đều phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và tiến bộ ngành y tế. Đạo đức y học chính là khoa học về lý luận phẩm chất ngƣời cán bộ y tế và 12 bản chất giai cấp của vấn đề ấy, là học thuyết về nghĩa vụ ngƣời thầy thuốc và trách nhiệm công dân của ngƣời hành nghề y không những trên bệnh viện, trên nghề nghiệp mà toàn thể ngành y. Ngoài ra y đức còn bao hàm cả việc thực hiện luật pháp trong hành nghề, cách ứng xử trong quan hệ giữa cán bộ y tế với nhau cũng nhƣ khả năng làm việc nhóm.
Ngành y luôn nhắc đến lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lƣơng y nhƣ từ mẫu”, còn cố Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã từng phát biểu về đặc trƣng của nghề y “Ít có nghề nghiệp nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao nhƣ đối với ngƣời làm công tác y tế. Đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và kinh nghiệm, một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ, đều có liên quan đến tính mạng con ngƣời và hạnh phúc gia đình”. Tiêu chuẩn đạo đức nghề y dƣới áp lực của xã hội là rất cao, đạo đức ngƣời thầy thuốc trƣớc hết phải có đạo đức của một công dân, ngƣời thầy thuốc luôn coi trọng trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức của ngƣời thầy thuốc, phải có tấm lòng nhân đạo đối với bệnh nhân, hành nghề vì mục đích trong sáng, hết lòng vì ngƣời bệnh, không vụ lợi. Thứ hai, hoạt động của ngành y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe nhân dân, tính mạng ngƣời bệnh và đòi hỏi nhiều lao động: Nguồn nhân lực y tế có vai trò rất quan trọng, vì nó ảnh hƣởng trực tiếp đến tính mạng con ngƣời, sức khỏe của nhân dân, chất lƣợng cuộc sống, chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nƣớc.
Việc cung ứng các dịch vụ y tế theo từng ngƣời bệnh về bản chất đòi hỏi sử dụng nhiều lao động. Trong cung ứng mỗi dịch vụ y tế, ít nhất cần có sự tiếp xúc riêng trực tiếp giữa nhân viên y tế và ngƣời bệnh.