lời mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 4 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nguồn nhân lực tại Trung tâm Y tế cấp huyện. 5 Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại Trung tâm Y tế thành phố Bắc Ninh. Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực tại Trung tâm Y tế thành phố Bắc Ninh.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRUNG TÂM Y TẾ CẤP HUYỆN 1.1 Lý luận về nguồn nhân lực tại Trung tâm Y tế cấp huyện 1. Khái niệm nhân lực Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. Theo Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân trong cuốn Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thì “Nhân lực chính là tổng thể những tiềm năng của con người mà trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong một thời kỳ nhất định (5 năm, 10 năm…) phù hợp với kế hoạch và chất lượng phát triển”.
Như vậy, có thể nói nhân lực là năng lực mà con người sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm tất cả tiềm năng của một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hoặc một xã hội. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực hay còn được biết đến với tên gọi khác là nguồn lực con người. Khái niệm nay xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ trước khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Theo Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực được định nghĩa là kiến thức, năng lực và trình độ lành nghề của của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội.
Với cách nhìn này, khái niệm nguồn nhân lực được xem xét dựa trên các phương diện chất lượng, sức mạnh và vai trò của con người đối với sự phát triển của xã hội. 7 Còn theo định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người đang trong độ tuổi lao động và đồng thời có khả năng tham gia lao động. Khái niệm nguồn nhân lực được tiếp cận theo hai nghĩa: - Xét theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực về con người cho sự phát triển. Vì vậy, nguồn nhân lực là toàn bộ dân cư có thể phát triển Trung lập.
- Xét theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực chỉ khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động và nguồn lực này có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội. Nghĩa là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động đáp ứng đầy đủ các yếu tố về thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp để huy động vào quá trình lao động. Theo tác giả Lê Thị Mỹ Linh: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp” [Lê Thị Mỹ Linh, 2009]. Khái niệm này đó chỉ ra được sức mạnh tiềm ẩn của NNL trong tổ chức khi họ được động viên, khuyến khích kịp thời.
Như vậy, nói tóm lại ta có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách của con người đáp ứng sự đòi hỏi của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. Khái niệm nguồn nhân lực Y tế Theo Báo cáo Sức khỏe Thế giới của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006: Khái niệm Nguồn nhân lực y tế (còn được biết là nguồn nhân lực chăm sóc sức khỏe hoặc lực lượng lao động chăm sóc sức khỏe) là tất cả những người tham gia vào các hành động có mục đích chính là nâng cao sức khỏe. 8 Nguồn nhân lực y tế được xác định là một trong những trụ cốt chính của một hệ thống y tế. Họ bao gồm các bác sĩ, điều dưỡng viên, nữ hộ sinh,nha sĩ, dược sỹ, những người khác làm việc trong ngành y tế, nhân viên y tế cộng đồng, nhân viên y tế xã hội và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác, cũng như nhân viên hỗ trợ và quản lý sức khỏe– những người không cung cấp dịch vụ y tế trực tiếp, nhưng rất cần thiết để hệ thống y tế hoạt động hiệu quả, bao gồm cả quản lý dịch vụ y tế, kỹ thuật viên hồ sơ y tế và thông tin sức khỏe, nhà kinh tế học sức khỏe, quản lý chuỗi cung ứng sức khỏe, thư ký y khoa và những người khác.
Các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực 1. Số lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực trong tổ chức là số lượng thành viên trong một tổ chức, chỉ số này thể hiện quy mô của một tổ chức. Tổ chức có số lượng nhân viên càng đông đảo, quy mô của tổ chức đó càng lớn mạnh và ngược lại, số lượng nhân viên càng ít thì quy mô của tổ chức đó càng nhỏ. Lực lượng lao động là những người trong độ tuổi lao động đang làm việc, những người trên độ tuổi lao động đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc Toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động, được quy định bởi pháp luật lao động của một quốc gia.
Dân số trong độ tuổi lao động gồm 2 nhóm là dân số trong độ tuổi lao động đang tham gia hoạt động kinh tế và dân số trong độ tuổi lao động không hoạt động kinh tế vì các lý do khác nhau. Dân số trong độ tuổi lao động là thành phần chính tạo ra nguồn nhân lực và được sử dụng để tính tỷ lệ phụ thuộc của dân số Về số lượng trong một tổ chức là tổng số người được tổ chức thuê mướn, được trả công và được ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức đó. Trong số lượng nhân lực chính là số lượng nhân lực được tổ chức huy động trên thực tế để thực hiện các mục tiêu của tổ chức, nhằm duy trì và phát triển hoạt động của tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu một cách đơn giản là năng lực của nhân lực trong cuộc sống và trong công việc.
Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động Xã hội (2011) thì: “Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong 11 công việc,…), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động”. Nguyễn Thanh Mai thì: “chất lượng NNL” là: “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động”. Vũ Thị Ngọc Phùng thì: “Chất lượng NNL được đánh giá quá trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ”. Theo quan điểm này thì chất lượng NNL được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực).
Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng. Mai Quốc Chánh thì: “Chất lượng NNL được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất”. Như vậy, việc đánh giá chất lượng NNL được tác giả “xem xét trên các mặt” chứ không coi đó là các tiêu chí cần thiết và bắt buộc phải có, do đó, có thể có mặt “được xem xét”, có mặt “chưa được xem xét” và có thể có mặt “không được xem xét” đến. 10 Có thể thấy “chất lượng NNL” là một khái niệm có nội hàm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá NNL.
Chất lượng NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL, bao gồm: Trí lực: là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của 12 nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người. Gồm trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động.
Trình độ văn hoá, với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là điều kiện đảm bảo cho NNL hoạt động mang tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Kỹ năng lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển NNL ở xã hội công nghiệp. Thể lực: là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách Trung lập, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động.