Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TRONG NGÀNH Y TẾ 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhân lực trong ngành y tế 1. Một số khái niệm 1.1 Khái niệm y tế Y tế theo nghĩa rộng có thể hiểu đó là lĩnh vực hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân từ hoạt động vệ sinh môi trường sống và làm việc, dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật đến việc khám và điều trị bệnh. Theo nghĩa hẹp, y tế là những hoạt động phòng chống và điều trị bệnh tật cho nhân dân.
Hoạt động phòng chống bệnh tật rất rộng, gồm công tác vệ sinh môi trường sống và làm việc liên quan đến gây bệnh (bệnh do nhiễm khuẩn, lây lan và bệnh nghề nghiệp), tiêm chúng, giáo dục y học cho cộng đồng, thể dục dưỡng sinh. Hoạt động khám và điều trị bệnh cho nhân dân là hoạt động cơ bản nhất của ngành y tế. Khái niệm về nhân lực ngành y tế Nhân lực chính là sức lực nằm trong mỗi con người, để con người có thể hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người.
Cho đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động hay còn gọi là con người có sức lao động. Nhân lực chính là nguồn lao động, sức lực con người làm việc trong một tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị cụ thể. Sức lực này lớn mạnh dựa vào công sức, tâm huyết và sự cố gắng không ngừng của tập thể con người. Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là nguồn lực của con người, và nó được xem xét ở nhiều khía cạnh.
Thứ nhất đó là nguồn nhân lực nằm trong bản thân mỗi người. Thứ hai hiểu là tổng thể nguồn lực của cá nhân có khả năng tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Nhân lực y tế: Nhân lực y tế (Health human resources: HHR) - còn được biết là nhân lực chăm sóc sức khỏe (human resources for health: HRH) hoặc lực lượng 6 lao động chăm sóc sức khỏe (health workforce), được định nghĩa là "tất cả những người tham gia vào các hành động có mục đích chính là nâng cao sức khỏe". Nhân lực y tế theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO) bao gồm tất cả những người tham gia vào các hoạt động có mục địch nâng cao sức khỏe.
Nhân lực ngành y tế (bao gồm bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh, dược sĩ,…) là thành phần vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân (UHC) và đạt được các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) liên quan đến sức khỏe. Đội ngũ nhân lực y tế đa chuyên ngành, có chuyên môn tốt có khả năng cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao và lấy người dân làm trung tâm là vô cùng cần thiết để đáp ứng nhu cầu y tế đang thay đổi tại Việt Nam, đặc biệt là sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm và già hóa dân số. Trong công cuộc cải cách hệ thống y tế tại Việt Nam, một trong những việc trọng tâm là tập trung xây dựng nhân lực ngành y tế là: xây dựng đội ngũ cán bộ y tế có trình độ, đặc biệt ở tuyến cơ sở; có cơ chế chính sách đảm bảo chất lượng chuyên môn y tế và chất lượng đào tạo tại các trường đại học y; và đảm bảo mức lương xứng đáng cho các cán bộ y tế. Nguồn nhân lực y tế là tất cả những người trong và ngoài biên chế nhưng tham gia vào hoạt động chăm sóc và nâng cao sức khỏe tại các cơ sở y tế.
Họ bao gồm các bác sĩ, điều dưỡng viên, nữ hộ sinh, nha sĩ, dược sỹ, những người khác làm việc trong ngành y tế, nhân viên y tế cộng đồng, nhân viên y tế xã hội và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác, cũng như nhân viên hỗ trợ và quản lý sức khỏe - những người không cung cấp dịch vụ y tế trực tiếp, nhưng rất cần thiết để hệ thống y tế hoạt động hiệu quả, bao gồm cả quản lý dịch vụ y tế, kỹ thuật viên hồ sơ y tế và thông tin sức khỏe, nhà kinh tế học sức khỏe, quản lý chuỗi cung ứng sức khỏe, thư ký y khoa và những người khác (Nguyễn Văn Điềm, 2017). Đặc điểm của nhân lực y tế: - Là lực lượng được lựa chọn rất kỹ và chặt chẽ và thời gian đào tạo lâu hơn so với các cán bộ ngành khác. - Nguồn nhân lực y tế luôn thiếu và rất khó đáp ứng được đầy đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. - Phân bố không đồng đều, tập trung ở hầu hết các vùng đô thị phát triển.
- Cán bộ y tế phải chịu áp lực công việc rất lớn 7 1. Khái niệm về quản lý nhân lực ngành y tế Nhiều nhà kinh tế cho rằng: Nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội nghĩa là tất cả các thành viên trong tổ chức sẽ sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử, giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức. Với khái niệm đó cho thấy, nhân lực chú trọng nhiều vào vấn đề nâng cao chất lượng, như vậy quản lý nhân lực cần chú trọng tới chất lượng, khơi dậy và phát huy được tiềm năng (năng lực, sáng tạo, quan hệ) của nhân lực hay cần chú trọng bồi dưỡng và phát huy 2 yếu tố khả năng và đạo đức. Quản lý một đơn vị ít nhất phải bao gồm: quản lý mục tiêu; quản lý nguồn lực; quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh; quản lý marketing; quản lý các mối quan hệ; quản lý môi trường sống và hoạt động của đơn vị.trong đó, nguồn lực bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn tài lực, nguồn vật lực, nguồn lực thông tin.Trong các nguồn lực trên thì nguồn nhân lực có vai trò, vị trí cơ bản nhất quyết định nhất và cũng là đối tượng khó quản lý nhất.
Phân tích lý thuyết và tổng kết thực tiễn đều cho thấy nguồn nhân lực là quyết định nhất đối với sự thành bại của một hệ thống, một đơn vị, một tổ chức cho đến một quốc gia. Do đó, quản lý nhân lực là: quản lý các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng, thúc đẩy, phát triển và duy trì một lực lượng lao động làm việc có hiệu suất cao trong tổ chức. Quản lý nhân lực ngành y tế (QLNLYT): là tìm được cán bộ y tế với những kỹ năng thích hợp cho những vị trí công tác phù hợp và thực hiện những việc làm theo đúng vị trí (WHO, 2006). Trong hệ thống y tế, QLNLYT: - Là bất kỳ hoạt động, một hệ thống hoặc chính sách nào; - Liên quan đến việc tuyển dụng, đào tạo (kỹ năng, kiến thức và thái độ) và sử dụng cán bộ (bố trí và phân công nhiệm vụ) có hiệu quả hơn; - Góp phần tăng cường sức khỏe cộng đồng.
Hệ thống y tế và Mô hình tổ chức mạng lưới y tế Việt Nam 1. Hệ thống y tế Việt Nam Lĩnh vực khám chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng: Bao gồm các cơ sở khám chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng từ Trung ương đến địa phương. Mang đến sự tiếp cận dễ dàng, tiện ích cho nhu cầu của người dân. Bao gồm cả các cơ sở y tế của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các ngành khác.
8 Tập trung chủ yếu ở các cơ sở điều trị gồm các bệnh viện, phòng khám, trạm y tế. Đảm nhận các công tác khám, chữa bệnh theo tiêu chuẩn cũng như phối hợp với các công tác quản lý nhà nước khác. Tỷ lệ giường bệnh chung của Việt Nam là 22,80/10 000 dân. Lĩnh vực y tế dự phòng, y tế công cộng: Tại tuyến Trung ương, gồm có các viện Trung ương, viện khu vực, phân viện và một trung tâm.
Tại địa phương, ở tất cả các tỉnh thành phố đều có Trung tâm Y tế dự phòng. Từ đó đảm bảo người dân không bị phân biệt khi tham gia các nhu cầu chăm sóc y tế. Một số tỉnh còn có Trung tâm phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm phòng chống sốt rét, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS. Ngoài ra còn có các Trung tâm y tế cho các ngành khác nhau: công nghiệp, giao thông, xây dựng, nông nghiệp và bưu điện.
Đảm bảo tiếp cận cho các chủ thể tham gia hoạt động nghề nghiệp đặc thù. Lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học: - Gồm có các trường Đại học Y, Dược và Khoa y, các trường Cao đẳng y tế, các trường Trung học y tế, trường Kỹ thuật thiết bị y tế. Trong đó bao gồm: + Trường Đại học Y-Dược (15 Trường Đại học Y, Dược, Y tế Công cộng, Điều dưỡng); + Hệ thống các Trường Cao đẳng Y tế (04 trường). + Hệ thống các Trường Trung học và dạy nghề (58 Trường Trung học Y tế, 01 Trường Kỹ thuật thiết bị Y tế, 04 Trung tâm đào tạo cán Bộ Y tế, 04 Lớp trung học Y tế).
- Các cơ sở đào tạo này có thể trực thuộc Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc trực thuộc Sở y tế các tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương. Nhà nước quản lý, điều chỉnh phù hợp hoạt động của các cơ sở đào tạo. Các cơ sở đào tạo có thể là thành phần Nhà nước hoặc tư nhân. - Các trung tâm nghiên cứu và chuyển giao: như Viện Vệ sinh dịch tễ vaccin và sinh phẩm, Trung tâm nghiên cứu.
9 Lĩnh vực giám định, kiểm định, kiểm nghiệm: - Về kiểm nghiệm, kiểm định: + Có một viện kiểm nghiệm. + Một phân viện kiểm nghiệm. + Một Trung tâm kiểm định quốc gia sinh phẩm y học. + Trung tâm kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Hoạt động giám định: + Được thực hiện ở cả cấp trung ương (Viện giám định y khoa, viện pháp y) và cấp tỉnh (hội đồng giám định y khoa, y pháp và tâm thần). Để thực hiện chức năng giám định nhanh chóng, kịp thời khi có yêu cầu phối hợp. + Các đơn vị này làm nhiệm vụ giám định sức khỏe, bệnh tật cho nhân dân. + Viện y pháp thực hiện nghiên cứu về y pháp trong ngành y tế, giám định mức độ tổn thương, mức độ tổn hại sức khỏe, giám định tử thi, hài cốt, giám định nguyên nhân gây chết.
Từ đó giúp các cơ quan nhà nước quản lý, điều tra và xác định tội phạm.