Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản lý công nhân kỹ thuật của công ty TNHH Một thành viên kỹ thuật máy bay VAECO Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý công nhân kỹ thuật công ty TNHH Một thành viên kỹ thuật máy bay VAECO 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG NHÂN KỸ THUẬT TRONG DOANH NGHIỆP 1. CÔNG NHÂN KỸ THUẬT 1. Khái niệm công nhân kỹ thuật * Khái niệm lao động kỹ thuật và công nhân kỹ thuật Thuật ngữ “Lao động kỹ thuật” tuy chưa được đưa vào từ điển Bách khoa ở Việt Nam nhưng trong thực tế được dùng khá phổ biến. Trong một số tài liệu, một số nghiên cứu của các nhà khoa học cũng có đề cập đến khái niệm này nhưng với các cách hiểu khác nhau.
Năm 1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có chỉ thị số 151/CT ngày 25 tháng 5 năm 1982 về thống kê lao động kỹ thuật ở Việt Nam. Theo đó lao động kỹ thuật là: tất cả các cán bộ khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ đã tốt nghiệp (có bằng cấp) từ bậc trung học chuyên nghiệp trở lên và công nhân kỹ thuật. Hiện nay cần thay đổi quan niệm công nhân kỹ thuật và thay vào đó là lao động có nghề hoặc người đã được đào tạo nghề, trong nền kinh tế hiện đại, giáo dục nghề nghiệp còn phát triển đào tạo các trình độ cao hơn như CĐ kỹ thuật, ĐH kỹ thuật mang tính thực hành và trong thực tế công nhân kỹ thuật có thể không có bằng, chứng chỉ nghề nhưng lại có kỹ năng nghề nhất định và có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, được thống kê theo chỉ tiêu thống kê lao động việc làm hàng năm của cơ quan thống kê theo chỉ tiêu “công nhân kỹ thuật không có bằng” nên cũng cần được mở rộng, nghiên cứu thống nhất. Đề án nghiên cứu tổng thể về giáo dục - đào tạo và phân tích nguồn nhân lực Việt Nam (VIE/89/022) do UNESCO, UNDP, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện đã đưa ra khái niệm “Công nhân kỹ thuật” và cho rằng: công nhân kỹ thuật là lao động qua đào tạo được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất.
7 Theo khái niệm này người lao động được xếp vào loại công nhân kỹ thuật nếu hội tụ đủ hai yếu tố: được đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất; được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo. Công nhân kỹ thuật theo khái niệm của dự án VIE/89/022 xét về tính chất lao động bao gồm hai loại: - Lao động kỹ thuật mang tính chất thực hành. - Lao động chuyên môn (quản lý, nghiên cứu và chuyên gia) mang tính hàn lâm. Như vậy, khái niệm công nhân kỹ thuật ở đây được hiểu theo hai cấp độ: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: công nhân kỹ thuật là loại lao động qua đào tạo, được cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo nói chung; theo nghĩa hẹp công nhân kỹ thuật là lao động mang tính chất thực hành. Theo nghĩa hẹp: công nhân kỹ thuật là loại lao động được đào tạo, cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp của hệ thống giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và có kỹ năng hành nghề để thực hiện các công việc có độ phức tạp với các công nghệ khác nhau, phù hợp với ngành, nghề ở các cấp trình độ khác nhau, trực tiếp tạo ra sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ phục vụ quốc kế dân sinh. Như vậy, người lao động muốn trở thành CNKT phải có 2 điều kiện: - Thứ nhất, được đào tạo và cấp bằng hoặc chứng chỉ của các bậc đào tạo của hệ thống giáo dục nghề nghiệp (đào tạo trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề). - Thứ hai, có kỹ năng hành nghề để tạo ra sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất kinh doanh vẫn tồn tại một bộ phận người lao động do nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn chưa đạt điều kiện một nhưng do tích lũy kinh nghiệm hoặc được truyền nghề, kèm cặp trực tiếp nên có thể đáp ứng điều kiện hai. Vì vậy nếu xem điều kiện một là điều kiện cần thì có thể đề ra chính sách để có thể giúp họ hoàn thiện bằng cách học thêm và tổ chức thẩm định cấp chứng chỉ công nhận và từ đó cần mở rộng khái niệm này để nghiên cứu. Trong thuật ngữ LĐ-TB-XH cho rằng “ CNKT sản xuất kinh doanh là người 8 lao động có trình độ và kỹ xảo nhất định thông qua đào tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực tế, đảm nhiệm được những công việc phức tạp, đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật - công nghệ, có khả năng truyền nghề hoặc dạy nghề. Như vậy theo “Thuật ngữ LĐ-TB và XH “ những người có trình độ, kỹ năng, kỹ xảo nhất định (chưa có bằng hoặc chứng chỉ đào tạo) cũng thuộc nhóm CNKT.
Như vậy CNKT phải gắn với thị trường lao động, là loại lao động mang tính thực hành, trực tiếp vận hành máy móc thiết bị để tạo ra sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội. Từ các cách biểu hiện trên, có thể nêu khái niệm CNKT như sau: Công nhân kỹ thuật là loại lao động được đào tạo và cấp bằng hoặc chứng chỉ phù hợp theo trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực tế, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp được công nhận bởi một cơ quan (tổ chức) có thẩm quyền và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Khái niệm CNKT trên đảm bảo sự phù hợp với Quyết định số 48/2002/QĐ- TTg ngày 11 tháng 4 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010, Quyết định số 201/2002/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và luật giáo dục năm 2005 nhằm “hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành áp ứng nhu cầu phát triển KT-XH, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao” và mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ; liên thông giữa các ngành nghề, các trình độ đào tạo nghề với các trình độ đào tạo khác trong trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Công nhân kỹ thuật hiện nay còn phải đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, phải là loại lao động có kiến thức, có kỹ năng, có trình độ đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư, của các doanh nghiệp và phải đảm bảo trên cả ba mặt của chất lượng lao động là thể lực, trí lực và phẩm chất.
Đặc điểm công nhân kỹ thuật - Công nhân kỹ thuật được kết tinh trong mọi sản phẩm hàng hoá là yếu tố quyết định trong cạnh tranh của nền kinh tế thị trường. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao bao gồm lao động thể lực và lao động trí óc. Trong nền sản xuất xã hội, lao động thể lực và lao động trí óc được kết hợp chặt chẽ giữa hai loại lao động và trong cùng một người lao động. Bởi vì muốn sản phẩm đứng vững và cạnh tranh được trên thị trường quốc tế thì trong sản phẩm phải có hàm lượng trí tuệ cao.
Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không chỉ làm giàu cho mình, mà còn cho mọi người, cho xã hội. Quốc gia nào có nhiều lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì quốc gia ấy thêm sức mạnh, xã hội nào có nhiều lao động có trình độ thì xã hội đó văn minh. - Công nhân kỹ thuật là lao động thể hiện trí thông minh, sự sáng tạo, kỹ năng, kỹ sảo của con người trong quá trình lao động. Sản phẩm của công nhân kỹ thuật là sản phẩm quý giá đưa lại lợi ích to lớn, có tác động mạnh đến sản xuất, công tác và phát triển kinh tế xã hội.
Rõ ràng người công nhân kỹ thuật có trình độ cao tiếp thu được dễ dàng kỹ thuật tiên tiến, làm ra sản phẩm có chất lượng cao, với số lượng nhiều hơn người khác có trình độ thấp, có lợi cho bản thân, làm lợi cho doanh nghiệp, cơ quan. - Công nhân kỹ thuật là loại lao động cần được đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm suốt đời. Công nhân kỹ thuật không phải tự nhiên bản thân sinh ra mà có, mà nó phải trải qua những thời gian đào tạo kiến thức nhất định đồng thời nó còn phải cần có một thời gian dài thực tế với công việc để có những kinh nghiệm, những kỹ năng, kỹ sảo, những phát hiện, khám phá. Thực tế cũng xác nhận tốt nghiệp Đại học phải làm việc ít nhất 5 năm liên tục mới thực phát huy được một phần tác dụng.
Phân loại công nhân kỹ thuật Tùy theo tiêu thức xác định mà chúng ta có các loại công nhân kỹ thuật khác nhau. Trên thực tế, công nhân kỹ thuật được phân loại như sau: 10 1. Phân loại theo tính chất lao động Theo tính chất lao động, thông thường người ta chia công nhân kỹ thuật thành 2 loại sau đây: - Công nhân kỹ thuật là những người thừa hành kỹ thuật ở trong các xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, v.v… - Nhân viên chuyên môn kỹ thuật là những người thừa hành kỹ thuật ở các cơ sở dịch vụ và phục vụ xã hội. Phân loại theo ngành nghề Theo tiêu chí ngành nghề, người ta chia công nhân kỹ thuật thành rất nhiều loại: công nhân kỹ thuật xây dựng; công nhân kỹ thuật điện; công nhân kỹ thuật cơ khí; v.
Phân loại theo cấp đào tạo Theo tiêu chí cấp đào tạo, công nhân kỹ thuật được chia thành những loại sau - Công nhân kỹ thuật được đào tạo tại xí nghiệp: đây là những lao động kỹ thuật bậc thấp được doanh nghiệp đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu cụ thể của công việc mà họ đảm nhận. - Công nhân kỹ thuật được đào tạo tại các trung tâm dạy nghề: đây là những lao động kỹ thuật được đào tạo chính quy, mang tính chuyên nghiệp trong những ngành, những lĩnh vực cụ thể. Thời gian đào tạo của loại hình này là 12-27 tháng. - Công nhân kỹ thuật được đào tạo tại các trường trung học chuyên nghiệp, thời gian đào tạo 2-3 năm.