Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình tất yếu, thúc đẩy việc mở rộng thị trường khu vực và toàn cầu. Bước sang năm 2023, kinh tế thế giới đối mặt với nhiều thách thức: tăng trưởng suy giảm, nhu cầu tiêu dùng suy yếu, hàng rào bảo hộ gia tăng, lạm phát neo ở mức cao, chính sách tiền tệ thắt chặt cùng áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính - bất động sản tại nhiều quốc gia. Bối cảnh này mang lại cả cơ hội lẫn thách thức cho ngành ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là hoạt động thanh toán quốc tế.

Thanh toán quốc tế là một bộ phận cốt lõi của hoạt động ngoại hối, thuộc nghiệp vụ cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và có mối liên hệ trực tiếp với kinh tế đối ngoại. Hoạt động này chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về quản lý ngoại hối (QLNH). Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) cùng các văn bản hướng dẫn đã đặt nền tảng pháp lý cơ bản, đáp ứng tiến trình gia nhập WTO. Tuy nhiên, trước sự biến chuyển nhanh chóng của các quan hệ kinh tế và sự ra đời của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hệ thống pháp luật QLNH đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định, đòi hỏi phải được hoàn thiện nhằm đảm bảo tính đồng bộ và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 100/NH-GP ngày 17/10/2018 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp (thay thế Giấy phép số 0054/NH-GP ngày 14/09/1994). Với gần 30 năm hoạt động, MB cung ứng đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại và thanh toán quốc tế. Việc nghiên cứu thực tiễn tuân thủ quy định pháp luật về QLNH tại MB phản ánh rõ nét tính thực tiễn và tính tổng quát của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Khóa luận xác định mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản lý ngoại hối trong hoạt động thanh toán quốc tế.
  2. Làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật về QLNH của Việt Nam trong hoạt động thanh toán quốc tế thông qua phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tại MB.
  3. Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về QLNH của Việt Nam trong hoạt động thanh toán quốc tế, phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay và tương lai.

Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật Việt Nam về chủ thể QLNH; đối tượng QLNH; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động thanh toán quốc tế (tập trung vào giao dịch vãng lai và giao dịch vốn); các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động ngoại hối.

Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung vào phương diện pháp lý và thực tiễn áp dụng các quy định QLNH trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Quân đội ở giai đoạn hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa và phát triển cơ sở lý luận từ các công trình nghiên cứu kinh tế - pháp lý trước đây, bao gồm nghiên cứu về chính sách tỷ giá hối đoái và thị trường ngoại hối của các tác giả Nguyễn Văn Công (2004), Nguyễn Văn Tiến (2002), Lê Quốc Lý (2004), Nguyễn Duy Lộ (2009), Phan Đăng Hải (2023). Tác giả nhận định các công trình trước chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế vĩ mô, từ đó tập trung đi sâu vào góc độ khoa học pháp lý và cơ chế áp dụng thực tế.

Khung pháp lý nền tảng được sử dụng bao gồm:

  • Văn bản hợp nhất số 07/2013/VBHN-VPQH ngày 11/07/2013 về Pháp lệnh Ngoại hối.
  • Văn bản hợp nhất số 25/2013/VBHN-VPQH ngày 29/12/2022 về Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Nghị định số 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối.
  • Thông tư số 20/2022/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động chuyển tiền một chiều ra nước ngoài và thanh toán, chuyển tiền cho các giao dịch vãng lai khác.
  • Thông tư số 37/2013/TT-NHNN hướng dẫn QLNH đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ bảo lãnh.
  • Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-NHNN ngày 09/02/2023 về phạm vi hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng.
  • Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-NHNN ngày 22/06/2023 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
  • Các chuẩn mực và tập quán quốc tế: Cam kết với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Điều lệ WTO, Quy tắc Incoterms và Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp:

  • Phương pháp phân tích, so sánh: Dùng để mổ xẻ từng quy định pháp luật thực định, đối chiếu giữa quy chuẩn pháp lý với thực tiễn triển khai nghiệp vụ tại ngân hàng thương mại.
  • Phương pháp tổng hợp: Dùng để khái quát các mâu thuẫn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn và xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý.
  • Nguồn dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, NHNN; các tài liệu nội bộ, quy chế, quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng TMCP Quân đội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý ngoại hối trong hoạt động thanh toán quốc tế

Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết pháp lý cơ bản:

  • Khái niệm ngoại hối: Dưới góc độ pháp luật thực định Việt Nam (khoản 2 Điều 6 Luật NHNN và khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối), ngoại hối được định nghĩa theo phương pháp liệt kê 5 nhóm tài sản: (1) Đồng tiền quốc gia khác hoặc đồng tiền chung (ngoại tệ); (2) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ (séc, thẻ, hối phiếu); (3) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ (trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu); (4) Vàng thuộc dự trữ nhà nước, vàng trên tài khoản nước ngoài của người cư trú, vàng khối/thỏi/miếng khi mang qua biên giới; (5) Đồng Việt Nam trong trường hợp chuyển vào/ra khỏi lãnh thổ hoặc sử dụng trong thanh toán quốc tế. Ngoại tệ là một bộ phận nằm trong nội hàm của ngoại hối.
  • Hoạt động ngoại hối và thanh toán quốc tế: Hoạt động ngoại hối là tổng thể các hành vi pháp lý của người cư trú và không cư trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ và cung ứng dịch vụ ngoại hối. Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ quan hệ kinh tế/phi kinh tế qua hệ thống ngân hàng, bao gồm 3 phương thức phổ biến: Chuyển tiền (Remittance), Nhờ thu (Collection), Tín dụng chứng từ (Documentary Credit).
  • Đặc điểm của QLNH trong thanh toán quốc tế: (1) Chủ thể quản lý là cơ quan nhà nước chuyên trách (đặc biệt là Ngân hàng trung ương); (2) Đối tượng quản lý là hành vi của các tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch ngoại hối chứ không phải bản thân tài sản ngoại hối; (3) Phương thức quản lý kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp hành chính và biện pháp kinh tế; (4) Phạm vi điều chỉnh giới hạn trong giao dịch vãng lai và giao dịch vốn; (5) Chịu tác động đồng thời bởi pháp luật quốc gia và các cam kết quốc tế (IMF, UCP, Incoterms).
  • Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật: Tác giả chỉ ra 6 lý do chính: công cụ kiểm soát quyền lực và trật tự xã hội; khẳng định vị thế bình đẳng của quốc gia trong hội nhập; điều tiết thị trường, dự trữ ngoại hối và cán cân thanh toán; bảo đảm tính đồng bộ trong hệ thống ngân hàng thương mại; tạo môi trường minh bạch thu hút vốn FDI; ngăn ngừa tội phạm tài chính, rửa tiền, tài trợ khủng bố.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định quản lý ngoại hối trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội

Chương 2 phân tích chuyên sâu thực trạng pháp luật thực định và hoạt động triển khai tại MB:

1. Phân định chủ thể và đối tượng quản lý:

  • Chủ thể quản lý: Chính phủ thống nhất quản lý; NHNN chịu trách nhiệm trực tiếp (Điều 4, Điều 31 Luật NHNN) trong việc cấp/thu hồi giấy phép, điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, quản lý dự trữ ngoại hối; các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng phối hợp.
  • Đối tượng quản lý: Phân chia thành "người cư trú" và "người không cư trú". Tác giả chỉ rõ bất cập thực tế: ngân hàng thương mại gặp khó khăn lớn khi xác định tư cách cư trú đối với người mang nhiều quốc tịch (sở hữu nhiều giấy tờ tùy thân hợp lệ) hoặc khi việc xuất nhập cảnh được tự động hóa không đóng dấu hải quan lên hộ chiếu, dẫn đến khó kiểm tra mốc thời gian cư trú 12 tháng.

2. Khung pháp lý điều chỉnh các nhóm giao dịch:

  • Giao dịch vãng lai: Thực hiện nguyên tắc tự do hóa theo cam kết IMF và Thông tư 20/2022/TT-NHNN. Tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ xuất trình chứng từ hợp lệ; tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm kiểm tra, lưu trữ hồ sơ. Mọi giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ bắt buộc phải chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng được phép.
  • Giao dịch vốn: Pháp luật thiết lập cơ chế quản lý chặt chẽ qua tài khoản chuyên dùng và thủ tục đăng ký với NHNN:
Loại giao dịch vốn Công cụ / Tài khoản quản lý bắt buộc Thủ tục hành chính với NHNN
Đầu tư ra nước ngoài 01 tài khoản vốn đầu tư bằng 01 loại ngoại tệ (hoặc thêm 01 tài khoản bằng VNĐ) mở tại 01 TCTD được phép; Tài khoản ngoại tệ trước đầu tư. Đăng ký / đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối với NHNN sau khi có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Báo cáo khi dùng lợi nhuận tái đầu tư.
Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài 01 tài khoản tự doanh hoặc 01 tài khoản nhận ủy thác; 01 tài khoản thực hiện chương trình thưởng cổ phiếu (đối với cá nhân người lao động Việt Nam). Cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư gián tiếp / nhận ủy thác; Đăng ký hạn mức tự doanh, hạn mức ủy thác hàng năm với NHNN.
Vay và trả nợ nước ngoài (tự vay, tự trả) 01 tài khoản vay, trả nợ nước ngoài mở tại 01 TCTD được phép (hoặc tài khoản vốn đầu tư trực tiếp đối với doanh nghiệp FDI). Đăng ký khoản vay trung, dài hạn; khoản vay ngắn hạn gia hạn > 1 năm hoặc còn dư nợ tại thời điểm 01 năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên; Báo cáo định kỳ hàng tháng trực tuyến.
Cho vay và thu hồi nợ nước ngoài / bảo lãnh 01 tài khoản cho vay ra nước ngoài; 01 tài khoản thực hiện bảo lãnh (theo Thông tư 37/2013/TT-NHNN). Đăng ký, đăng ký thay đổi thỏa thuận cho vay / cam kết bảo lãnh với NHNN; TCTD kiểm tra, đối chiếu chứng từ trước khi giải ngân/chuyển tiền.
  • Chế tài xử phạt vi phạm: Áp dụng Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-NHNN. Mức phạt tiền tối đa đối với vi phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngoại hối là 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức và 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân. Hình thức xử phạt bổ sung gồm tước giấy phép có thời hạn, đình chỉ hoạt động, tịch thu tang vật (ngoại tệ, đồng Việt Nam, vàng).

3. Thực tiễn áp dụng tại MB:

  • MB ban hành Quy chế về Hệ thống Văn bản nội bộ nhằm chuẩn hóa chu trình quản trị gồm 2 phân hệ: văn bản quy phạm nội bộ và văn bản làm việc.
  • Chu trình quản lý văn bản tại MB phân định rõ thẩm quyền: Hội đồng quản trị (thiết lập mục tiêu, giám sát cấp cao), Ban Kiểm soát (giám sát tuân thủ), Tổng Giám đốc (phê duyệt, điều hành triển khai) và Chủ sở hữu văn bản (trực tiếp soạn thảo, rà soát).
  • Các văn bản nội bộ trực tiếp điều chỉnh hoạt động QLNH trong thanh toán quốc tế tại MB bao gồm:
    • Quy chế nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ: Quy định giao dịch ngoại tệ và phái sinh lãi suất với khách hàng tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân.
    • Quy chế Thanh toán và kho quỹ: Quy định dịch vụ chuyển tiền, Quy định dịch vụ tài trợ thương mại.
    • Hệ thống quy trình nghiệp vụ chi tiết: Quy trình tài trợ thương mại chiều đến, Quy trình tài trợ thương mại chiều đi, Quy trình thanh toán chiều đến, Quy trình thanh toán chiều đi.

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý ngoại hối trong hoạt động thanh toán quốc tế

Chương 3 tổng hợp các căn cứ từ thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại và những bất cập trong quản lý nhà nước để đưa ra định hướng giải pháp:

  • Cơ sở đề xuất: Xuất phát từ sự mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy nhanh tốc độ thanh toán quốc tế phục vụ kinh doanh với nghĩa vụ kiểm soát chứng từ chặt chẽ; những khoảng trống pháp lý khi xử lý dòng vốn ngoại hối trong các tình huống bất khả kháng (thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh khi đầu tư ra nước ngoài chưa thể giải thể, thanh lý dự án để chuyển vốn về nước); và sự thiếu đồng bộ trong việc chia sẻ thông tin dữ liệu giữa cơ quan hải quan, cơ quan xuất nhập cảnh với hệ thống ngân hàng thương mại.
  • Nhóm giải pháp về chính sách: Hoàn thiện cơ chế tự do hóa giao dịch vãng lai đi đôi với việc quy chuẩn hóa danh mục chứng từ mục đích; rà soát và thống nhất các quy định về đăng ký giao dịch vốn giữa Luật Đầu tư, Luật Quản lý nợ công và Pháp lệnh Ngoại hối.
  • Nhóm giải pháp về kỹ thuật và thực thi pháp lý: Xây dựng tiêu chí định lượng rõ ràng hơn để nhận diện người cư trú trong môi trường số hóa; hoàn thiện hệ thống báo cáo điện tử liên thông giữa NHNN và các tổ chức tín dụng; tăng cường cơ chế kiểm tra sau giao dịch thay vì chỉ dựa vào kiểm soát chứng từ tiền kiểm tại các ngân hàng thương mại.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý: Khóa luận làm rõ bức tranh tổng thể về cơ chế quản lý ngoại hối trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Việt Nam, phân định ranh giới pháp lý giữa giao dịch vãng lai (theo định hướng tự do hóa) và giao dịch vốn (theo định hướng quản lý luân chuyển có điều kiện qua tài khoản chuyên dùng và thủ tục đăng ký).
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn thực tiễn: Tác giả phát hiện và phân tích các bất cập pháp lý cụ thể:
    • Vướng mắc xác định tư cách "người cư trú" của cá nhân đa quốc tịch hoặc người xuất nhập cảnh qua cổng tự động (không có dấu hải quan để chứng minh mốc 12 tháng).
    • Khoảng trống pháp lý trong việc thu hồi vốn đầu tư ra nước ngoài khi dự án gặp sự kiện bất khả kháng chưa thể hoàn tất thủ tục thanh lý.
    • Rủi ro pháp lý của các ngân hàng thương mại khi phải chịu trách nhiệm kiểm tra tính xác thực của chứng từ mục đích trong khi thiếu cơ sở dữ liệu đối soát quốc gia.
  • Khảo sát hệ thống vận hành nội bộ tại MB: Minh chứng cách thức một ngân hàng thương mại cổ phần quy chuẩn hóa các quy định của NHNN thành hệ thống văn bản quy phạm và quy trình nghiệp vụ (Quy chế nguồn vốn, Quy chế Thanh toán và kho quỹ, các quy trình thanh toán/tài trợ thương mại chiều đi - chiều đến).
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khắc phục hạn chế của các đề tài kinh tế thuần túy bằng việc tiếp cận trực tiếp dưới góc độ pháp luật thực định và kỹ thuật tuân thủ nghiệp vụ ngân hàng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, khóa luận chủ yếu tập trung khảo sát các quy định pháp luật thực định và thực tiễn ban hành văn bản quy phạm nội bộ tại Ngân hàng TMCP Quân đội, chưa thực hiện so sánh đối chiếu sâu với thực tiễn tại các khối ngân hàng có yếu tố sở hữu khác (như ngân hàng thương mại nhà nước hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động khi hệ thống pháp luật ngân hàng tiếp tục sửa đổi (đặc biệt là các văn bản hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi); nghiên cứu cơ chế quản lý ngoại hối đối với các mô hình thanh toán quốc tế phi truyền thống, thanh toán số xuyên biên giới và tài sản số.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và người nghiên cứu ngành Luật học, Luật Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Tài liệu cung cấp hệ thống lý luận pháp lý rõ ràng về ngoại hối, phân biệt ngoại tệ và ngoại hối, cùng cấu trúc điều chỉnh pháp luật đối với từng loại giao dịch thanh toán quốc tế.
  • Đối với cán bộ pháp chế, chuyên viên thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại: Phần phân tích quy định giao dịch vãng lai, giao dịch vốn (đầu tư ra nước ngoài, vay trả nợ nước ngoài) và mô hình thiết kế cây văn bản quy phạm nội bộ tại Chương 2 là nguồn tham khảo hữu ích để xây dựng quy trình kiểm soát rủi ro tuân thủ.
  • Đối với doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư quốc tế: Giúp nắm bắt các điều kiện mở tài khoản chuyên dùng, nghĩa vụ đăng ký giao dịch với NHNN và các chế tài xử phạt hành chính để chủ động tuân thủ.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo pháp luật Việt Nam, những loại tài sản nào được xác định là ngoại hối? Theo khoản 2 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước và khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối, ngoại hối gồm 5 nhóm tài sản: (1) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung; (2) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ (séc, thẻ, hối phiếu); (3) Giấy tờ có giá bằng ngoại tệ (trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu); (4) Vàng thuộc dự trữ nhà nước, vàng trên tài khoản nước ngoài của người cư trú, vàng khối/thỏi/miếng mang qua biên giới; (5) Đồng Việt Nam khi chuyển vào/ra khỏi lãnh thổ hoặc sử dụng trong thanh toán quốc tế.

2. Ngân hàng thương mại gặp khó khăn gì khi xác định tư cách "người cư trú" trên thực tế? Thực tế phát sinh vướng mắc đối với người có từ 2 quốc tịch trở lên (sử dụng nhiều giấy tờ tùy thân hợp lệ) và các trường hợp xuất nhập cảnh qua hệ thống tự động hóa không có con dấu hải quan trên hộ chiếu. Ngân hàng thiếu thông tin để xác định chính xác mốc thời gian cư trú 12 tháng, dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa ngân hàng và cơ quan thanh tra.

3. Khoản vay nước ngoài tự vay, tự trả nào bắt buộc phải thực hiện thủ tục đăng ký với Ngân hàng Nhà nước? Các khoản vay nước ngoài phải đăng ký với NHNN gồm: (1) Khoản vay trung, dài hạn; (2) Khoản vay ngắn hạn được gia hạn thời gian trả nợ gốc mà tổng thời hạn trên 01 năm; (3) Khoản vay ngắn hạn không có thỏa thuận gia hạn nhưng còn dư nợ gốc tại thời điểm tròn 01 năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên (trừ khi hoàn thành thanh toán dư nợ trong 30 ngày làm việc tiếp theo).

4. Mức phạt tiền tối đa đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngoại hối là bao nhiêu? Theo Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-NHNN ngày 22/06/2023, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng là 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm và 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm.

5. MB đã ban hành những văn bản nội bộ nào để kiểm soát hoạt động quản lý ngoại hối trong thanh toán quốc tế? MB ban hành các văn bản chủ yếu: Quy định giao dịch ngoại tệ và phái sinh lãi suất (thuộc Quy chế nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ); Quy định dịch vụ chuyển tiền và Quy định dịch vụ tài trợ thương mại (thuộc Quy chế Thanh toán và kho quỹ); cùng 4 quy trình nghiệp vụ cụ thể gồm: Quy trình tài trợ thương mại chiều đến, Quy trình tài trợ thương mại chiều đi, Quy trình thanh toán chiều đến và Quy trình thanh toán chiều đi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Hoàng Hiệp đã hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết và các quy định pháp luật thực định của Việt Nam về quản lý ngoại hối trong hoạt động thanh toán quốc tế. Thông qua việc phân tích thực tế áp dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội, công trình làm rõ cơ chế quản trị văn bản nội bộ cũng như những bất cập trong việc nhận diện đối tượng cư trú, kiểm soát dòng vốn đầu tư và vay nợ nước ngoài. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác hoàn thiện thể chế pháp lý ngoại hối và nâng cao hiệu quả tuân thủ tại các tổ chức tín dụng.