Chương 1: Cơ sở lý luận phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước. Chương 2: Thực trạng phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước tại tỉnh Thừa Thiên Huế. 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LU N PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Khái niệm, mục đích, căn cứ và nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là tiềm lực tài chính, là sức mạnh về mặt tài chính của nhà nước. Quản lý và điều hành NSNN có tác động chi phối trực tiếp đến các hoạt động khác trong nền kinh tế. NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước vừa là công cụ hữu ích để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế quốc dân và giải quyết các vấn đề xã hội.
Theo Điểm 14, Điều 4, Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”[15]. Phân cấp quản lý NSNN là một nội dung quan trọng của quá trình quản lý NSNN. Phân cấp quản lý NSNN liên quan đến sự phân phối nguồn NSNN giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương. Trong đó, phân cấp quản lý NSNN nhấn mạnh đến hai vấn đề cơ bản: (1) Sự phân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa chính quyền TW và CQĐP.
(2) Dựa trên chức năng của CQĐP để xác định nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp chính quyền này. Đồng thời, phân cấp NSNN xác định cơ sở pháp lý để CQĐP có thể nâng cao hoặc chia sẻ các khoản chi tiêu nhiều hơn trong NSNN. Nói cách khác, phân cấp quản lý NSNN là sự phân công trách nhiệm và quyền hạn, cũng như lợi ích giữa các cấp khác nhau của chính quyền về quản lý và thực hiện NSNN. Theo Điều 8, Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13: “Phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách”[15].
Như vậy, có 6 thể thấy, phân cấp quản lý NSNN bao gồm thẩm quyền quyết định và quản lý NSNN; Đồng thời, phân cấp quản lý NSNN tập trung vào phân cấp quyền hạn, trách nhiệm giữa các cơ quan có liên quan đến thẩm quyền quyết định và thẩm quyền quản lý NSNN. Mục đích phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Phân cấp quản lý NSNN là một nội dung quan trọng của quản lý NSNN. Phân cấp quản lý NSNN không chỉ liên quan đến công tác quản lý NSNN mà còn liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước và các vấn đề KT - XH. Mục đích của phân cấp quản lý NSNN thể hiện ở một số điểm sau: Thứ nhất, mục tiêu cốt lõi của phân cấp quản lý NSNN là nhằm đảm bảo các nguồn lực tài chính quốc gia được huy động và phân phối sử dụng một cách hiệu quả nhất.
Đồng thời, đảm bảo tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động khai thác, sử dụng vốn NSNN, sự hài hòa về quyền lực trong quản lý KT - XH và quản lý ngân sách của các cấp chính quyền. Thứ hai, phân cấp quản lý NSNN là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN với các hoạt động KT - XH một cách cụ thể. Phân cấp quản lý NSNN nhằm tập trung đầy đủ và kịp thời, đúng chính sách. Ngoài ra, phân cấp quản lý NSNN còn góp phần thực hiện việc phân phối, sử dụng NSNN hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, phục vụ tốt nhất các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KT - XH của đất nước.
Thứ ba, phân cấp quản lý NSNN đúng đắn và hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì và phát triển hoạt động của các cấp chính quyền ngân sách từ TW đến địa phương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phương trong cả nước. Phân cấp quản lý NSNN làm cho việc quản lý và kế hoạch hoá NSNN được tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền. Đồng thời, phân cấp quản lý NSNN còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý KT - XH ngày càng hoàn thiện hơn. Thứ tư, phân cấp quản lý NSNN sẽ khuyến khích việc cung cấp hàng hóa công cộng ngày càng hiệu quả.
Theo đó, phân cấp quản lý NSNN sẽ khuyến khích các địa phương chi ngân sách cho việc cung cấp các hàng hóa công cộng cho xã hội; 7 phát huy tính chủ động của địa phương trong việc cung ứng dịch vụ công và tăng cường năng lực QLNN của các cấp CQĐP. Thứ năm, phân cấp quản lý NSNN tạo điều kiện cho việc kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng NSNN. Việc phân cấp quản lý NSNN rõ ràng, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho việc giám sát việc quản lý, sử dụng NSNN của các cơ quan chức năng và người dân có hiệu quả hơn. Căn cứ thực hiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp CQĐP là tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thống NSNN gồm nhiều cấp.
Điều đó không chỉ bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý về hành chính. Việc thực hiện phân cấp quản lý NSNN căn cứ vào một số nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, phân cấp quản lý NSNN là nội dung quan trọng trong quản lý NSNN được thiết kế xây dựng trên nền tảng tổ chức bộ máy nhà nước và các vấn đề KT - XH. Do đó, nhà nước muốn quản lý hiệu quả NSNN thì phải ban hành hệ thống những quy định pháp luật có liên quan đến việc tổ chức và quản lý NSNN, trong đó có những quy định cụ thể về phân cấp quản lý NSNN. Thứ hai, hệ thống NSNN của mỗi quốc gia thường được phân thành các cấp tương ứng với hệ thống bộ máy nhà nước.
Theo đó, phổ biến hiện nay là hệ thống NSNN được phân chia thành ngân sách Trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP). Thứ ba, căn cứ vào đặc điểm hoạt động QLNN của mỗi quốc gia. Quốc gia nào thực hiện quyền lực nhà nước có tính chất tập trung cao thì các nguồn thu NS lớn thuộc về cấp TW, địa phương được phân cấp những nguồn thu nhỏ. Ngược lại, các quốc gia thực hiện quyền lực nhà nước có sự phân công, phân cấp giữa TW và địa phương thì NSNN được thực hiện quản lý có tính độc lập tương đối.
Trong đó, các địa phương có thể chủ động trong việc ban hành và thực thi nhiều quyết định về NSNN ở địa phương. Thứ tư, căn cứ vào tính hiệu quả của việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ công của chính quyền các cấp. Theo đó, việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công ở cấp trực tiếp tiến hành chi trong phân cấp quản lý NSNN sẽ làm cho việc chi tiêu NSNN hiệu quả hơn. Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước về quản lý và điều hành NSNN.
Để thực hiện phân cấp quản lý NSNN có hiệu quả cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: Thứ nhất, phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với phân cấp quản lý KT - XH của đất nước. Phân cấp quản lý KT - XH là tiền đề, điều kiện để thực hiện phân cấp quản lý NSNN. Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải quyết mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền qua việc xác định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp. Thực chất của nguyên tắc này là giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền lợi, quyền lợi phải tương xứng với nhiệm vụ được giao.
Mặt khác, nguyên tắc này còn đảm bảo tính độc lập tương đối trong phân cấp quản lý NSNN ở nước ta. Thứ hai, phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo NSTW giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước. Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của cơ quan nhà nước ở TW trong quản lý KT - XH của cả nước được Hiến pháp quy định và từ tính chất xã hội hoá của nguồn tài chính quốc gia. Nguyên tắc này được thể hiện: - Mọi chính sách, chế độ quản lý NSNN được ban hành thống nhất và chủ yếu dựa trên cơ sở quản lý NSTW.
- NSTW chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn trong nền kinh tế và trong xã hội. Theo đó, các khoản thu chủ yếu có tỷ trọng lớn phải được tập trung vào NSTW, các khoản chi có tác động đến quá trình phát triển KT - XH của cả nước phải do NSTW đảm nhiệm, NSTW chi phối hoạt động của NSĐP, đảm bảo tính công bằng giữa các địa phương. Thứ ba, phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo nguyên tắc phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu, số bổ sung từ NS cấp trên cho NS cấp dưới được cố định từ 3 đến 5 năm. Hằng năm, chỉ xem xét điều chỉnh số bổ sung một phần khi có trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Chế độ phân cấp xác định rõ khoản nào NSĐP được thu do 9 NSĐP thu, khoản nào NSĐP phải chi do NSĐP chi; không để tồn tại tình trạng nhập nhằng dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại hoặc lạm thu giữa NSTW và NSĐP. Có như vậy mới tạo điều kiện nâng cao tính chủ động cho các địa phương trong bố trí kế hoạch phát triển KT - XH. Đồng thời là điều kiện để xác định rõ trách nhiệm của TW và địa phương trong quản lý NSNN. Thứ tư, phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo công bằng trong phân cấp NS.
Phân cấp NS phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung của cả nước, hạn chế thấp nhất sự chênh lệch về văn hoá, KT - XH giữa các vùng lãnh thổ. Thứ năm, phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảo tăng cường hiệu lực quản lý, kiểm soát NSNN.