LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Nông nghiệp Việt Nam được xác định là một mặt trận kinh tế hàng đầu. Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến phát triển nông nghiệp nông thôn, coi đây là lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển KT - XH (kinh tế-xã hội) của đất nước. Theo tinh thần nghị quyết XIII của Đảng, hướng đi của ngành Nông nghiệp Việt Nam được xác định: “Phát triển nông nghiệp hàng hoá tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu”[39, tr 124]. Để hiện thực hóa chủ trương và mục tiêu phát triển nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã phê duyệt chiến lược phát triển KH&CN (khoa học và công nghệ) ngành nông nghiệp và đã triển khai nhiều chương trình, dự án KH&CN cấp quốc gia gắn với chi tiêu công trong nông nghiệp, mà cụ thể là chi thường xuyên NSNN (ngân sách nhà nước). Thông qua chi thường xuyên NSNN, Nhà nước đã đóng vai trò chủ đạo trong việc trợ giúp cung cấp cho xã hội được nhiều sản phẩm KH&CN có chất lượng, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực đã đạt được, quản lý chi thường xuyên NSNN cho KH&CN trong nông nghiệp còn tồn tại những hạn chế nhất định, thể hiện thông qua một số mặt: Mức độ chi tiêu chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; Cơ chế, phương thức và quy trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho KH&CN trong nông nghiệp còn bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa thực sự gắn với mục tiêu tiết kiệm và nâng cao hiệu quả chi NSNN và chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp đặt ra; Chi thường xuyên NSNN cho KH&CN trong nông nghiệp thời gian qua vẫn mang tính chất dàn trải, chưa tạo ra bước đột phá về KH&CN để thực hiện các chương trình mục tiêu trọng điểm của ngành nông nghiệp.
Xét về tính hiệu quả và mức độ chi thường xuyên NSNN cho KH&CN 1 trong nông nghiệp ở nước ta thời gian qua cũng còn khá khiêm tốn. Với trình độ của cách mạng KH&CN 4.0 như hiện nay thì KH&CN thực sự là chìa khóa để thúc đẩy phát triển các hoạt động KTXH. Văn kiện đại hội Đảng XIII cũng đã xác định rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ thể chế, chính sách ứng dụng, phát triển KH&CN. Chuyển đổi cơ chế đầu tư, quản lý tài chính KH&CN theo nguyên tắc đặt hàng, dựa vào kết quả, hiệu quả cuối cùng” [ 39, tr 141].
Do vậy, việc nghiên cứu bổ sung lý luận quản lý chi thường xuyên NSNN cho KH&CN trong nông nghiệp cũng như hoàn thiện công tác thực tiễn quản lý thường xuyên NSNN cho KH&CN trong nông nghiệp ở Bộ NN&PTNT hiện đang là vấn đề có tính thời sự cấp thiết. Chính vì vậy, NCS đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ trong nông nghiệp ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế với mong muốn đóng góp một phần vào việc nghiên cứu tìm kiếm giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN cho KH&CN trong nông nghiệp ở Bộ NN&PTNT nước ta thời gian tới. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế quản lý chi thường xuyên NSNN cho KH&CN (1) Phạm Thu Thủy (2018), “Đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng [60].
Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung, luận giải làm rõ lý luận cơ bản về cơ chế quản lý chi NSNN cho KH&CN đặc biệt là các nội dung cấu thành cơ chế quản lý chi NSNN, các nhân tố ảnh hưởng tới cơ chế quản lý chi NSNN cho KH&CN. Trên cơ sở khung lý thuyết đã nêu, tác giả đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý chi NSNN cho KH&CN ở Việt Nam trên hai khía cạnh: Một là, Cơ chế phân bổ NSNN cho KH&CN ; Hai là, Cơ chế sử dụng kinh phí NSNN cho KH&CN. Từ phân tích đánh giá thực trạng, luận án đã chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế của cơ chế quản lý chi NSNN cho KH&CN ở Việt Nam. Tác giả luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp với 09 giải pháp cụ thể nhằm đổi mới cơ chế quản lý chi NSNN cho KH&CN ở Việt 2 Nam.
Các giải pháp cụ thể như: Phân bổ ngân sách gắn với các ưu tiên trong chiến lược phát triển KH&CN và kết quả hoạt động của các tổ chức KH&CN; Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan trong phân bổ, thực hiện và giám sát sử dụng kinh phí NSNN cho KH&CN ; Đổi mới cơ chế sử dụng NSNN cho KH&CN theo hướng kiểm soát kết quả KH&CN. Như vậy, trong luận án này các giải pháp tác giả đề xuất cũng khá toàn diện, phù hợp với xu hướng tương lai, đặc biệt là cơ chế quản lý chi NSNN theo kết quả KH&CN. Tuy nhiên, các hình thức, phương thức cụ thể áp dụng trong quản lý chi NSNN theo cơ chế này chưa được đề cập chi tiết cụ thể. Bên cạnh đó, các nội dung quản lý chi NSNN theo chu trình ngân sách chưa được đề cập cụ thể.
Đây là một khoảng trống luận án của NCS sẽ đi sâu nghiên cứu trong công tác quản lý chi NSNN cho KH&CN ở Bộ NN&PTNT. Trên cơ sở khái quát cơ chế quản lý tài chính và phân tích khẳng định sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với KH&CN ở Việt Nam, đề tài đã đi sâu phân tích đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với KH&CN ở Việt Nam giai đoạn từ 2011 đến 2015, chỉ ra những bất cập của cơ chế quản lý tài chính KH&CN. Từ đó, đề tài đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với KH&CN giai đoạn 2016-2020 ở nước ta. Các giải pháp đề xuất tập trung vào: Cơ chế, chính sách quản lý vốn đầu tư cho phát triển KH&CN; Cơ chế lập dự toán kinh phí cho KH&CN ; Cơ chế phân bổ và giám sát sử dụng kinh phí thực hiện đề, tài dự án KH&CN.
Như vậy, liên quan đến chi NSNN cho KH&CN, đề tài nghiên cứu mới chủ yếu đề cập đến cơ chế quản lý chi NSNN như: cơ chế lập dự toán chi, cơ chế phân bổ và giám sát sử dụng kinh phí NSNN cho KH&CN, chưa đi sâu nghiên cứu đề xuất hình thức và biện pháp cụ thể trong quản lý chi NSNN ở các khâu lập, phân bổ dự toán chi, cấp phát các khoản chi cũng như chưa đi sâu nghiên cứu nội dung quyết toán và kiểm tra, kiểm soát chi thường xuyên NSNN cho KH&CN. Đây cũng là những nội dung mà luận án của NCS sẽ đi sâu nghiên cứu ở phạm vi Bộ NN&PTNT. Nội dung cơ bản của nghiên cứu này trước hết là tác giả đã chỉ ra những điểm hạn chế trong quản lý chi NSNN cho KH&CN ở các khâu: phân bổ lập ngân sách đầu tư, quản lý sử dụng ngân sách và quyết toán chi NSNN. Đây cũng là các nội dung quản lý chi NSNN cho KH&CN nhưng chưa được đề cập sâu sắc.
Từ những hạn chế đã chỉ ra, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị đổi mới cơ chế quản lý chi NSNN cho KH&CN trong điều kiện tăng cường phát triển kinh tế thị trường đó là tự chủ và khoán chi, nhằm thúc đẩy phát triển KH&CN trong các viện nghiên cứu, trường đại học. Những khuyến nghị về đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu ngân sách cho KH&CN đề cập trong bài báo là một trong những vấn đề tác giả sẽ nghiên cứu vận linh hoạt để đề xuất giải pháp phù hợp cho công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho KH&CN ở các đơn vị trực thuộc Bộ NN&PTNT. Các công trình nghiên cứu liên quan đến phân bổ chi thường xuyên và công cụ, chính sách, giải pháp quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho Khoa học và Công nghệ. Vũ Thị Bạch Tuyết (2000), “Các giải pháp tài chính nhằm phát triển KH&CN ở Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính [66].
Luận án đã khái quát lý luận về KH&CN như: khái niệm, đặc trưng, vai trò của KH&CN đối với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước; Vai trò của tài chính đối với việc phát triển KH&CN. Về khảo sát kinh nghiệm quốc tế, luận án đã phân tích kinh nghiệm sử dụng tài chính phát triển KH&CN của một số nước có nền kinh tế tương đồng với Việt Nam để rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 2, luận án đi sâu phân tích đánh giá thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển KH&CN nước ta giai đoạn 1987-1999, trong đó tập trung vào giải pháp phân bổ chi thường xuyên và quản lý chi thường xuyên NSNN cho KH&CN. Từ những hạn chế đã nêu, Luận án đã đề xuất một số giải pháp tài chính như: đổi mới chính sách phân bổ và quản lý chi thường xuyên NSNN, hoàn thiện chính sách thuế, sử dụng linh hoạt công cụ tín 4 dụng, tỷ giá hối đoái nhằm phát triển KH&CN của Việt Nam sau năm 2000.
Kết quả nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới chính sách phân bổ và quản lý chi thường xuyên NSNN để thúc đẩy phát triển KH&CN ở Việt Nam được đề cập trong luận án là kiến thức hữu ích giúp cho NCS có thể kế thừa, nghiên cứu phát triển mở rộng thêm trong luận án của mình. Phạm Thị Hà (2017), “Sử dụng công cụ tài chính thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính [42]. Luận án đã hệ thống hóa các quan điểm và nêu rõ quan điểm cá nhân về công nghệ, thị trường công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ; Làm rõ bản chất các công cụ tài chính (chi NSNN, thuế, tín dụng, các quỹ KH&CN) và cơ chế tác động của các công cụ tài chính đến phát triển các yếu tố của thị trường công nghệ.