Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1.
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI SỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỖI QUỐC GIA. Khái niệm ngân sách nhà nƣớc. Nguồn gốc ra đời ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước là một phạm trù lịch sử, một thành tựu lịch sử của sự phát triển xã hội loài người.
Sự ra đời và hoàn thiện của NSNN là cả một quá trình lâu dài, đa dạng và phức tạp. NSNN ra đời vì hai lý do chủ yếu sau: Một là, vì sự xuất hiện và ngày càng gia tăng về số lượng, chủng loại các nhu cầu chi tiêu công, điển hình như chi cho phòng chống ngoại xâm, phòng chống thiên tai. Ngày nay, nhu cầu chi tiêu công đã phát triển sang nhiều lĩnh vực, như chi cho sự nghiệp giáo dục & đào tạo, sự nghiệp y tế, chi cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH, hay xây dựng nông thôn mới hiện nay. Để chi cho các việc công trên, các nhà nước đã đặt ra lệ đóng góp, từ giản đơn đến phức tạp về nội dung đóng góp (công sức và nhiều loại hiện vật), từ phức tạp đến giản đơn về hình thức đóng góp (từ nhiều loại hiện vật đến duy nhất bằng tiền) và từ đó hình thành công quỹ, ngày nay gọi là NSNN.
Hai là, vì sự phát sinh những vấn đề KTXH mà để xử lý những vấn đề đó, những phương thức, công cụ QLNN ở phương diện nào đó đều chỉ có tác dụng nhất định, khó triệt để, kém nhạy bén, trong khi đó, sử dụng NSNN mới có thể giúp cho nhà nước xử lý được các vấn đề đó một cách nhanh chóng, triệt để, hiệu lực cao. Điển hình là việc điều tiết cung - cầu hàng hóa trên thị trường theo hướng mà nhà nước coi là có lợi cho dân, cho nước. Chẳng hạn, nhà nước thấy cần hạn chế việc sản xuất và tiêu dùng rượu, bia, thuốc lá, vàng mã để cúng tế,. Trong việc này, các nhà nước thường dùng biện pháp tuyên truyền.
Nhưng nếu chỉ bằng việc tuyên truyền, vận động thì việc hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm trên là rất kém 8 tác dụng, mà cấm thì vướng và khó, không như việc cấm sản xuất và tiêu dùng các chất ma túy, vũ khi và chất cháy nổ,.Vì thế, bên cạnh việc tuyên truyền để người dân từ bỏ việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm độc hại trên, nhà nước đã đánh thuế cao các hàng hóa đó. Khi áp thuế cao vào các hàng hóa trên thì cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng đều thiệt, từ đó mà giảm cả sản xuất lẫn tiêu dùng. Ở chiều hướng khác, để làm cho xã hội gia tăng sản xuất và tiêu dùng hàng trong nước (khác với hàng nhập khẩu) vì hướng sản xuất và tiêu dùng đó có lợi cho nước, cho dân, các nhà nước cũng dùng công cụ NSNN, nhưng không phải để kìm hãm mà để thúc đẩy cả sản xuất lẫn tiêu dùng, trong đó có việc miễn, giảm thuế đối với các mặt hàng đó hoặc trợ giá cho các mặt hàng đó với thực chất là nhà nước dùng công quỹ để bù đắp phần thiệt cho người sản xuất để người sản xuất kinh doanh bán hàng hóa cho người tiêu dùng với giá thấp, từ đó khuyến khích tiêu dùng. Chẳng hạn, như dịch vụ vận tải hành khách, sử dụng điện năng,.
Tức là, nhà nước muốn người dân đi lại bằng các phương tiện công cộng, dùng điện chứ không dùng các dạng năng lượng khác,. thì nhà nước dùng công quỹ để bù giá cước vận tải khách, bù giá điện cho các nhà cung ứng hàng hóa và dịch vụ để họ cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho người tiêu dùng, từ đó người tiêu dùng sẽ đi phương tiện công cộng nhiều hơn, dùng điện chứ không dùng các năng lượng khác. Khái niệm ngân sách nhà nước. Thuật ngữ "Ngân sách" xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước.
Từ thời Trung cổ, thuật ngữ “Ngân sách” được dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua mà bên trong chiếc túi đó có nhiều ngăn khác nhau chứa những khoản tiền khác nhau về nguồn gốc có và khác nhau về đích chi dùng. [15] Từ điển Tiếng Việt thông dụng định nghĩa "Ngân sách là tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định". Luật Ngân sách năm 2015 của Nhà nước Việt Nam đã định nghĩa về NSNN như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà 9 nước”. [17] Mỗi định nghĩa được tiếp cận theo cách khác nhau.
Với cách tiếp cận từ nguồn gốc ra đời của NSNN, tác giả định nghĩa NSNN như sau: Ngân sách nhà nước là công quỹ hàng năm của quốc gia, có phân rõ nguồn gốc tạo nên và đối tượng chi dùng công quỹ đó. Định nghĩa NSNN như trên để hiểu sâu sắc, có hệ thống những việc cần làm trong quản lý NSNN, điển hình là quản lý thu như thế nào, quản lý chi như thế nào theo từng loại thu - chi với các công đoạn cấu thành toàn bộ quá trình quản lý hai đầu thu - chi đó sao cho minh bạch. Chức năng của ngân sách nhà nƣớc. Chức năng bảo đảm chi tiêu công.
Chi tiêu công xuất hiện vì nhiều lý do, có mối quan hệ hữu cơ và hệ thống với nhau. Xuất phát từ thực tiễn lao động sản xuất, nhu cầu sinh hoạt vật chất, tinh thần và sự sinh tồn trước thiên tai, địch họa, con người cần sống cộng đồng. Khi con người đã cộng đồng cả ba việc trên, tất sinh ra nhiều nhu cầu và khả năng tiêu dùng chung, như phương tiện chung để cùng lao động sản xuất, phương tiện chung để cùng sinh hoạt vật chất và tinh thần, phương tiện chung để bảo vệ cộng đồng trước thiên tai, địch họa. Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu các việc công trên, phải tạo lập công quỹ, tức ngân sách nhà nước.
Đó chính là thực chất của chức năng bảo đảm chi tiêu công của ngân sách nhà nước. Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Sởi dĩ ngân sách nhà nước phải có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội là vì một chuỗi lý do, có quan hệ liên đới như sau: Thứ nhất, một trong các chức năng hay sứ mạng của nhà nước là điều chỉnh các quan hệ xã hội sao cho ích nước, lợi dân. Thứ hai, việc điều chỉnh các quan hệ trên có nhiều cách: Nhà nước đưa ra định hướng và chuẩn mực quan hệ xã hội để dân biết mà ứng xử đúng các quan hệ của mình với xã hội, tuyên truyền lôi cuốn để những ai chưa hiểu được định hướng đó thì giác ngộ và theo.
10 Thứ ba, trên thực tế, các biện pháp trên không đủ tác dụng điều chỉnh đối với không ít thành viên trong xã hội. Tức là, tuy nhà nước đã có chỉ dẫn và tuyên truyền, lôi cuốn nhưng nhiều người vẫn không theo các chỉ dẫn, các chuẩn mực đó trong nhiều quan hệ với xã hội của họ. Thứ tư, với nhiều trường hợp như trên, nhà nước đã dùng biện pháp cưỡng chế mạnh, như phạt tiền, bỏ tù, tịch thu phương tiện hành vi của đối tượng làm sai. Thứ năm, nhưng với nhiều trường hợp, nhà nước không thể dùng biện pháp cưỡng chế mạnh đó được, như việc sản xuất và sử dụng rượu, bia, thuốc lá, đồ vàng mã,.
của người dân. Thứ sáu, trong trường hợp đó, nhà nước thấy rằng, chỉ có dùng công cụ NSNN để điều chỉnh cả người sản xuất kinh doanh lẫn người tiêu dùng các hàng hóa đó là ngăn chặn được các hành vi trên và biện pháp đó là phù hợp cả về lý và đạo lý. Thứ bảy, bằng hoạt động của NSNN, nhà nước có thể đưa ra các khoản thu hoặc chi để điều chỉnh các hành vi của công dân và tổ chức công dân theo hướng ích nước, lợi dân. Những lý giải trên đây của tác giả chính là ngọn nguồn của chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội của NSNN.
Chính từ sự nhận ra của nhà nước về tác dụng của việc sử dụng công cụ NSNN trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội do công dân thực hiện nên có thể xác lập được chức năng trên của NSNN - chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chức năng của NSNN, như có người nói đến chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, chức năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng giám sát,. nhưng theo tác giả, các chức năng đó là các dạng cụ thể của hai chức năng cơ bản trên. Nhìn nhận rõ chức năng của NSNN thì mới quản lý NSNN một cách hiệu quả, phát huy hết vai trò, chức năng của NSNN phục vụ sự phát triển của đất nước.
Cấu tạo ngân sách nhà nƣớc. Cấu tạo cụ thể của NSNN của mỗi các nước khác nhau, của mỗi thời khác 11 nhau của từng nước đều có sự khác nhau. Tuy vậy, xuất phát từ chức năng của NSNN như trên, về nguyên tắc chung, NSNN có cấu tạo như sau: 1. Cấu tạo chung của ngân sách nhà nước.
Về tổng thể, NSNN của bất kỳ quốc gia nào cũng có dạng như sau: a) Về hình thái cấu trúc. Đó là cấu tạo với hai phần là phần thu và phần chi. b) Về nội dung của mỗi phần. - Phần chi: Thể hiện toàn bộ nhu cầu chi tiêu công của quốc gia, là xuất phát điểm cho việc hình thành phần đối ứng với nó là phần thu.
- Phần thu: Thể hiện toàn bộ khả năng có của công quỹ quốc gia, bảo đảm cho nhu cầu chi tiêu công của quốc gia, đã được thể hiện ở phần chi trên đây. Phần thu cũng là xuất phát điểm cho việc hình thành phần đối ứng với nó là phần chi. Cấu tạo từng phần thu - chi của ngân sách nhà nước. Cấu tạo cụ thể của NSNN của mỗi các nước khác nhau, của mỗi thời khác nhau của từng nước đều có sự khác nhau, như các khoản thu của NSNN Việt Nam thời nay khác xa các khoản thu của NSNN cũng của nước ta nhưng ở thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Thời đó chưa có Thuế Tài nguyên, Thuế thu nhập cá nhân,.