CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những vấn đề QLMT của khai thác than trên thế giới Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại hai quan niệm cơ bản về quyền sở hữu tài nguyên khoáng sản: Quan niệm thứ nhất coi “khoáng sản thuộc về chủ đất”. Theo đó, tài nguyên khoáng sản là một phần không tách rời đất đai, bất kể khoáng sản đó có trên mặt đất hay trong lòng đất. Quyền thăm dò, khai thác được cấp cho nhà đầu tư khoáng sản thông qua các thỏa thuận cho thuê mỏ (các thỏa thuận thuê mỏ này không phải là một thỏa thuận hành chính, mà là thỏa thuận giữa chủ đất và bên có hoạt động khoáng sản trên đất hoặc liên quan đến đất).
Hoa Kỳ là nước duy nhất áp dụng một cách tuyệt đối và thống nhất quan điểm này [19]. Quan niệm thứ hai coi “khoáng sản thuộc về Nhà nước”. Quan điểm này được thể hiện bởi hai đặc tính: xác nhận quyền sở hữu công cộng hay toàn dân mà được đại diện bởi các cơ quan chính quyền đối với khoáng sản; cơ quan chính quyền cấp phép thông qua các hợp đồng thuê để thăm dò, khai thác khoáng sản hay cấp phép cho các nhà đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản. Nhìn chung, quyền sở hữu tài nguyên khoáng sản ở hầu hết các nước trên thế giới đều thuộc về Nhà nước.
Than nói riêng và các loại khoáng sản khác nói chung được coi là sự ưu đãi mà thiên nhiên chỉ dành cho một số quốc gia nhất định tùy theo điều kiện địa lý, địa chất. Vì thế, nên đạo luật về khoáng sản không phải quốc gia nào cũng có. Một số nước có tiềm năng khai thác than dồi dào như Canađa, Úc, Philippin, Chilê, Trung Quốc,. pháp luật về khoáng sản rất hoàn thiện và được chú trọng, tuy nhiên mảng môi trường thể hiện trong các luật còn nhiều bất cập: Năm 1995 Philippin đã thông qua luật khai thác khoáng sản mới [12].
Luật Khai khoáng Philippin quy định rằng cả đất công và đất tư, kể cả đất rừng đều có thể được đưa vào khai thác mỏ. Luật này dường như cho phép thực hiện các hoạt 1 động khai khoáng trên toàn bộ diện tích đất nước không loại trừ cả các khu vực được coi là thiết yếu về sinh thái. Tuy nhiên, nếu so với nhiều quốc gia khác thì những điều khoản về bảo vệ và cải thiện môi trường khi khai khoáng của Philippin lại khá hoàn chỉnh. Cụ thể, Phần 69 Luật Khai khoáng quy định tất cả các nhà thầu đều phải thực hiện chương trình bảo vệ và cải thiện môi trường trong thời hạn của giấy phép hay hợp đồng.
Chương trình môi trường phải là một phần trong chương trình hoạt động được trình khi xin ký hợp đồng khai khoáng. Chương trình này phải có các điều khoản, nội dung liên quan đến phục hồi khu vực khai thác, kể cả biện pháp trồng lại rừng, khôi phục thảm thực vật. Phần 70 của luật quy định chi tiết nội dung ĐTM. Trừ thời gian thăm dò, ĐTM cần được trình và duyệt trước khi tiến hành hoạt động khai thác và phải bao gồm hồ sơ sinh thái hoàn chỉnh của khu vực khai thác.
Đối với Chilê, cho đến tận năm 1994, khung pháp lý về môi trường vẫn bao gồm hàng trăm luật, sắc lệnh, quy định được áp dụng không thống nhất bởi các bộ, ngành khác nhau [12]. Điều này đã làm nảy sinh rất nhiều sự lẫn lộn, không biết cơ quan nào của Chính phủ đóng vai trò như là cơ quan ra quyết định cuối cùng về các vấn đề môi trường ở Chilê. Tình trạng này dẫn đến việc mỗi bộ áp dụng các biện pháp BVMT khác nhau. Bản thân Luật Khai khoáng của Chilê hiện nay cũng không có các điều khoản về môi trường trừ Điều 17.6 nói rằng bất cứ hoạt động khai khoáng tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn hay di sản thiên nhiên đều phải được phép bằng văn bản của cấp thẩm quyền liên quan.
Về các điều khoản và quy định liên quan đến môi trường, Luật Tài nguyên Trung Quốc chỉ có một số ít điều khoản [12]. Trừ Điều 32 quy định các đơn vị khai thác cần tuân thủ điều khoản về BVMT để phòng ngừa ô nhiễm, còn các điều khoản môi trường đặc thù về khai khoáng nhất là các điều khoản liên quan đến phục hồi khu vực khai thác, quản lý chất thải mỏ. đều không được tìm thấy trong luật. Ngoài ra, luật cũng không yêu cầu đặt cọc để khắc phục các tổn thất môi trường xảy ra trong hay sau hoạt động khai thác.
2 Theo Luật Khai khoáng của Úc, để được cấp giấy phép thăm dò, chủ đơn cần cung cấp thông tin đầy đủ liên quan đến các ảnh hưởng có thể xảy ra đối với môi trường [12]. Các thông tin này bao gồm cả các biện pháp phục hồi dự kiến. Ở giai đoạn thăm dò, luật không bắt buộc phải có ĐTM nhưng sẽ được yêu cầu nếu thấy cần thiết. Luật Khai khoáng Nam Úc lại không hề có bất kỳ điều khoản nào liên quan đến môi trường, cũng như không đề cập đến một đạo luật nào khác phải áp dụng khi các vấn đề về môi trường bị vi phạm.
Các yêu cầu về môi trường do Bộ trưởng Bộ phát triển tài nguyên khoáng sản tùy ý quy định. Có thể nói Hoa Kỳ là nước có khung pháp luật về môi trường hoàn thiện hơn cả. Ở Hoa Kỳ, chủ sở hữu khoáng sản sẽ chủ động xin đăng ký quyền khai thác theo Luật Khai khoáng chung 1872 đã sửa đổi [12]. Tư nhân có quyền bán, cho thuê hoặc ký các thoả thuận khác như liên doanh liên quan đến khoáng sản mà họ sở hữu hoặc kiểm soát.
Mọi hoạt động khai khoáng, dù trên đất tư hay đất công, đều được điều chỉnh bởi rất nhiều luật, quy định, quy chế, pháp lệnh của Liên bang, tiểu bang hay địa phương. Chúng đề cập đến các vấn đề khác nhau kể cả BVMT, giảm thiểu và phục hồi môi trường. Các văn bản quy định các hoạt động và các hạn chế liên quan đến các vấn đề này do các cơ quan có trách nhiệm của Chính phủ ban hành ở tất cả các giai đoạn của hoạt động khai khoáng. 30 năm qua, ngành than Hoa Kỳ đã đạt được các kết quả đáng khích lệ, tuân thủ nghiêm ngặt các văn bản pháp luật, các quy định trong “Luật kiểm soát và hoàn thổ mặt đất sau khai thác mỏ” có hiệu lực từ năm 1977.
Các công ty khai thác mỏ đã tự xác định hướng hoàn thiện công nghệ của mình một cách phù hợp theo quy định của pháp luật. Việc thiết lập những vành đai cách ly và những kênh mương tháo nước ở biên giới mỏ thuộc khu vực miền Đông là những sáng tạo được Ủy ban điều hành khai thác các mỏ lộ thiên đánh giá cao và phổ biến để các công ty mỏ áp dụng. Các công ty hoàn toàn tự giác xác định cho mình nhiệm vụ phải BVMT khi tiến hành các hoạt động khai thác khoáng sản bởi nó đã trở thành điều luật không thay đổi khi họ được cấp giấy phép khai thác từ các cơ quan quản lý. Vai trò quản lý điều hành không chỉ bao trùm phạm vi của quá trình khai thác mà còn cả trong quá trình 3 chế biến sử dụng than, đặc biệt được quan tâm là môi trường không khí.
Các công ty than cũng trở thành các cơ sở nghiên cứu khoa học, ví dụ như tổ hợp năng lượng “FutureGen” nghiên cứu sử dụng than năng lượng thân thiện với môi trường. Có thể nói pháp luật về khoáng sản trên thế giới và khu vực vẫn ít quan tâm đến quyền lợi của môi trường. Bảo vệ và cải thiện môi trường khi khai khoáng – mỗi quốc gia một kiểu. Khi luật không có quy định về môi trường như trong trường hợp của nước Úc cho thấy sự không đảm bảo cho việc BVMT ở mức tối thiểu.
Trong một trường hợp khác như Quebec (Canađa), Luật Khai khoáng tuân theo nguyên tắc “tự do khai khoáng”, quyền và giấy phép khai thác khoáng sản cho phép người sở hữu giấy phép được độc quyền thăm dò, khảo sát và khai thác bất cứ khoáng chất nào trong một khu vực nhất định (trừ một số loại như dầu khí,…) với một số điều kiện và phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định. Nguyên tắc này quy định rằng bất cứ ai quan tâm đều có thể tiếp cận với các nguồn khoáng sản bất kể năng lực hay khả năng tài chính của người đó như thế nào [12]. Như vậy, theo như nguyên tắc này thì không có gì đảm bảo là sẽ có các giải pháp BVMT được thực hiện trong quá trình khai thác. Nhà nước quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các công cụ quản lý trong đó có các quy định pháp luật, vì vậy ở những nước thiếu các quy định về BVMT trong hoạt động khai khoáng thì vấn đề phòng chống, khắc phục ô nhiễm và sự cố môi trường vẫn chưa được quan tâm thích đáng, phát triển chỉ chạy theo lợi nhuận mà bỏ quên đi yếu tố môi trường dẫn đến sự phát triển không bền vững.
Những vấn đề QLMT của khai thác than Việt Nam 1. Các vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động khai thác than Hoạt động khai thác than bao gồm các khâu công tác chủ yếu sau: khai thác, sàng tuyển chế biến, tàng trữ và vận chuyển than. Các khâu công tác này là nguồn phát sinh những tác động xấu đến môi trường. Quá trình phát sinh ô nhiễm và những tác động tới môi trường được khái quát trong hình 1.1: Sơ đồ khái quát chung các khâu hoạt động trong quá trình khai thác than lộ thiên, hầm lò và phát sinh nguồn ô nhiễm môi trường KHAI THÁC THAN - Bụi Khoan, nổ - ồn - Bụi mìn - ồn - Chấn động Nổ mìn - Gây nứt nẻ, sụt lún mặt - Khí thải độc hại đất (Đối với hầm lò) Bốc xúc - Bụi (đào lò) - ồn - Thay đổi cảnh quan - Bụi, - Khí độc hại (đối với - ồn máy chạy diêzen) - Khí thải độc hại Vận tải - Bụi - ồn Thải đá - Thay đổi cảnh quan - Trôi lấp, sa mạc hoá - Bụi - Gây sạt lở - ồn Sơ tuyển - Trôi lấp (tại mỏ) - Gây trôi lấp, sa mạc hoá Thoát nước - Gây sạt lở - Làm xấu chất lượng nước mặt - Làm ô nhiễm nước - Gây bụi ngầm - Gia công chế biến - Gây ồn (Nhà máy - Gây trôi lấp do bã sàng tuyển) - Làm ô nhiễm nước biển gần bờ - Bồi lắng đáy biển do bùn than 1.
Ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn Hoạt động khai thác than đang gây ô nhiễm môi trường nặng nề, nhất là vùng than Quảng Ninh.