phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án đƣợc cấu trúc gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lí liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực các khu công nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng quản lí liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai Chƣơng 3: Giải pháp quản lí liên kết đào tạo giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VỚI DOANH NGHIỆP ĐÁP ỨNG NHU CẦU NHÂN LỰC CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp * Các nghiên cứu nước ngoài: Hiện nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều quan tâm đến lĩnh vực đào tạo nghề, trong đó nghiên cứu đào tạo đáp ứng NCXH đƣợc đề cập đến nhiều, nhằm góp phần quan trọng trong việc giải quyết quan hệ giữa đào tạo, lao động và việc làm.
Báo cáo của Trƣờng đại học Newcastle năm 2009: “Characterising modes of university engagement with wider society: A literature review and survey of best practice” [77] mô tả các hệ thống GDNN trên thế giới và những hoạt động nhằm giúp các trƣờng gắn kết với xã hội (đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: chính phủ, các DN, các tổ chức xã hội và các cộng đồng, kể cả cộng đồng khu vực và quốc tế). Hoạt động gắn kết đƣợc thể hiện trên bốn nhóm vấn đề chủ yếu sau: Kết hợp nghiên cứu (Engaged research); Chia sẻ kiến thức (Knowledge sharing); Dịch vụ (Service); Giảng dạy (Teaching). Trong tài liệu Đào tạo – Tiếp cận hệ thống” [14] của Viện nghiên cứu về quản lí giáo dục của Thuỵ Điển đã nêu lên mối quan hệ giữa đào tạo với sản xuất, với TTLĐ và đáp ứng NCXH. Về đào tạo nghề theo năng lực thực hiện đáp ứng nhu cầu DN có rất nhiều công trình nghiên cứu nhƣ: Designing a Competency - Based Training Curriculum, Homesglen College TaFe.
Australia Thiết kế CTĐT theo năng lực thực hiện” của Bruce Markenzie (1995) [76], Phát triển chƣơng trình 10 nghề ngắn hạn” của Doug Ledgerwood, Thiết kế đào tạo theo năng lực thực hiện” của Fletcher .S, Chuẩn kỹ năng” của Viện đào tạo Kỹ thuật của Úc. Nhìn chung các công trình này đều lƣu tâm đến việc đào tạo theo năng lực với các chuẩn đầu ra để đáp ứng NCXH và nhu cầu của các DN dƣới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và sản xuất. Công trình nghiên cứu “Vocational education and training challenges and responses” [80] của David Atchoarena, đã khẳng định vấn đề đào tạo nghề có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết thất nghiệp cho thanh niên và khắc phục việc thiếu kỹ năng cho lao động của DN. Trong nghiên cứu của mình, Stephen Billett và Amanda Henderson (2011) [90] chỉ ra vấn đề học của các ngành ứng dụng (nghiệp vụ) ngày càng đƣợc xã hội quan tâm nhiều hơn.
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhƣ: Training and Skills Development in the East Asian Newly Industrialised Countries: a comparison and lessons for developing countries” của Zafiris Tzannatos & Geraint Johnes [95], Công trình nghiên cứu Collaboration between enterpr ise and public training organisations: opportunities and obstacle” của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Giáo dục Dạy nghề (NCVER); Công trình nghiên cứu“Vocational education and training challenges and responses” [80] của David Atchoarena. * Các nghiên cứu trong nước: Nội dung LKĐT đã có nhiều tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về LKĐT giữa CSGDNN với DN mới xuất hiện trong những năm gần đây. Bành Tiến Long trong Công trình nghiên cứu đào tạo theo nhu cầu của xã hội ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” [45] đã đề cập đến sự phối hợp đồng bộ giữa CSGDNN với DN và đã đƣa ra một số định hƣớng, các giải pháp về đào tạo theo NCXH.
11 Trong đề tài nghiên cứu Đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu CNH- HĐH, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” [26] Nguyễn Minh Đƣờng, Phan Văn Kha đã đề cập đến chuyển hƣớng đào tạo theo nhu cầu của thị trƣờng, của xã hội Trần Khánh Đức và Nguyễn Lộc trong công trình nghiên cứu Hoàn thiện đào tạo nghề tại Xí nghiệp” [22] đã đi sâu nghiên cứu và đề xuất giải pháp tạo nghề tại DN có dự tham gia của các CSDN. Các công trình nghiên cứu Mở rộng hình thức dạy nghề trong doanh nghiệp” của Minh Hiền (2008) [36]; Đào tạo nghề gắn kết giữa nhà trƣờng và doanh nghiệp” của Nguyễn Thị Minh Nguyệt [55]; Về đào tạo theo NCXH đối với các cơ sở đào tạo” của Đặng Xuân Hải [31]; Cung và Cầu giáo dục” của Vũ Ngọc Hải [29] đều đề cập đến đào tạo đáp ứng NCXH. Phan Văn Kha trong công trình nghiên cứu Các giải pháp tăng cƣờng mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực có trình độ trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam” [41] đã đề cập đến những khái niệm liên kết, khách hàng trong đào tạo theo NCXH, trong đó DN là khách hàng quan trọng, sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng theo nguyên tắc 3P (Price - Performance –Punctuality). Theo Nguyễn Tiến Dũng trong bài viết “Đào tạo nghề theo hướng cầu của thị trường lao động” [16], đến nay, cả nƣớc có 143 cơ sở dạy nghề thuộc các DN; hầu hết các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế mạnh đều có trƣờng dạy nghề để chủ động tự tạo NL và góp phần cung cấp NL cho TTLĐ.
Trong bài viết "Thử tìm nguyên nhân và giải pháp chấn hưng nền giáo dục Việt Nam" [17] Đặng Ngọc Dinh nêu ra nguyên nhân thiếu hụt NL chất lƣợng cao là do thiếu quy hoạch hệ thống GDNN nên việc tăng, giảm ngành nghề đào tạo nghề theo NCXH còn nặng tính tự phát. Các công trình nghiên cứu Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá” (2003) của Mạc Văn Tiến [65]; Giáo dục nghề 12 nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động” (2008), của Nguyễn Đức Trí [64]; Sử dụng mô hình năng lực để phát triển NNL đáp ứng những nhu cầu phát triển khu KKT Dung Quất” (2007) của Nguyễn Hữu Lam [47]…đều liên quan đến nội hàm liên kết, kinh nghiệm của các CSDN và DN trong liên kết và QLLKĐT giữa CSDN và DN. Nhìn chung: Những công trình nghiên cứu khoa học ngoài nƣớc và trong nƣớc đã đề cập đến sự cần thiết phải LKĐT theo hƣớng cầu” để đáp ứng nhu cầu DN trong cơ chế thị trƣờng, đồng thời cũng nêu lên một số ý tƣởng về giải pháp để thực hiện LKĐT giữa CSGDNN với DN đáp ứng nhu cầu NL của DN. Tuy nhiên các tác giả chƣa đề cập sâu đến vấn đề cốt lõi là đổi mới mục tiêu, nội dung và CTĐT cũng nhƣ tổ chức quá trình đào tạo, quá trình LKĐT để thích ứng với nhu cầu đáp ứng NL cho các KCN.
Cũng chƣa có công trình nghiên cứu cụ thể về mô hình phù hợp cho tỉnh Đồng Nai là địa bàn phát triển KCN sớm và năng động của vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ. Nghiên cứu về liên kết đào tạo 1. Nghiên cứu về các hình thức liên ết hợp tác đào tạo * Các nghiên cứu nước ngoài Trong bài viết Training and Skills Development in the East Asian Newly Industrialised Countries: a comparison and lessons for developing countries” của Zafiris Tzannatos & Geraint Johnes [95] ở Châu Âu về sự hợp tác giữa các trƣờng và doanh nghiệp đƣợc thực hiện với sự tham gia của trên 3.000 trƣờng cho thấy mối quan hệ này mang lại nhiều lợi ích trực tiếp cho xã hội, cho các DN, nhà trƣờng, giảng viên, nhà nghiên cứu, SV trong nhiều vấn đề liên quan đến giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao kiến thức-kỹ thuật và công nghệ. Do đó sự hợp tác giữa các trƣờng đại học, các CSGDNN với DN đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng đào tạo và sức cạnh tranh của NL.
(1998): Strategic training partnerships between the State and enterprises”.Geneva: International Labour Office [82]. Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến tất cả các loại hợp tác chiến lƣợc giữa doanh nghiệp với Nhà nƣớc trong lĩnh vực đào tạo ở cấp quốc gia, tỉnh, ngành và địa phƣơng. Bao gồm hợp tác ba bên giữa tổ chức ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động và chính phủ. Hợp tác này đang đƣợc công nhận bởi các nhà hoạch định chính sách, điều cần thiết để cải thiện sự phù hợp của hệ thống đào tạo với nhu cầu của thị trƣờng lao động, hiệu quả của chúng trong sản xuất nhân lực có tay nghề cao, chất lƣợng và số lƣợng yêu cầu, hiệu quả trong việc sử dụng tốt nhất các nguồn lực sẵn.
Hệ thống cũng phải có khả năng để duy trì chất lƣợng và hiệu suất để đảm bảo chất lƣợng đào theo kế hoạch. Trách nhiệm đổi mới chính sách đào tạo, pháp luật và hệ thống Nhà nƣớc cần phối hợp với CSGDNN, DN và tổ chức xã hội. Trong việc thực hiện trách nhiệm này, Nhà nƣớc đang phải đối mặt với tình trạng khó xử, những hạn chế về ngân sách với sự cần thiết phải cải thiện phù hợp, hiệu quả, công bằng và bền vững của hệ thống đào tạo và đang cần sự hỗ trợ của tất cả các tổ chức. Ở Ấn Độ liên kết nhằm huy động các nguồn lực từ DN và xã hội cho đào tạo nhân lực.
Chính phủ Ấn Độ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành hệ thống GDNN ngay tại các DN; có chính sách ƣu đãi đối với lực lƣợng lao động có tay nghề cao, chuyên môn giỏi, đồng thời khích lệ hoạt động sáng tạo của ngƣời lao động thích ứng với mọi môi trƣờng làm việc. Các trƣờng cao đẳng công nghệ và đào tạo chuyên ngành nhận đầu vào là HS tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS).:Chile: Experiences in a market-oriented training system, ILO, Geneva, 1998 [83]. Nghiên cứu đã tập trung đặc biệt vào việc phân cấp đào tạo nhƣ một phƣơng tiện tăng cƣờng tính linh hoạt và đáp ứng với thị trƣờng lao động tại địa phƣơng.Những cải cách đào tạo Chile (đặc biệt 14 là nghề raining và việc làm thời) đã có một tác động lớn, ít nhất là số lƣợng. Hệ thống trợ cấp đã tác động trên cả cung và cầu.
Nhƣ nhu cầu liên quan, số lƣợng học viên và các nguồn lực đƣợc phân bổ cho đào tạo.