Tổng quan về luận án
Nghiên cứu "Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội" thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9229042), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Phượng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Việt Hương tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2022). Công trình được triển khai trong bối cảnh Hà Nội sở hữu nguồn tài nguyên di sản văn hóa đồ sộ bậc nhất cả nước với 5.922 di tích lịch sử văn hóa (trong đó 2.396 di tích đã xếp hạng gồm 01 di sản văn hóa thế giới Hoàng thành Thăng Long, 12 di tích quốc gia đặc biệt, 1.182 di tích quốc gia, 1.202 di tích cấp thành phố) và 1.793 di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm 1.206 lễ hội [76]. Đồng thời, thành phố là cái nôi hội tụ tinh hoa nghề truyền thống khi chiếm 1.350 làng nghề và làng có nghề (chiếm 1/3 trong tổng số 5.400 làng nghề của cả nước), với hơn 300 làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu.
Mặc dù các văn bản chỉ đạo chiến lược như Quyết định số 1230/QĐ-TTg về bảo tồn di sản bền vững [17], Quyết định số 1909/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 [18], Quyết định số 2139/QĐ-BVHTTDL về số hóa dữ liệu lễ hội [10] và Nghị quyết số 09-NQ/TU của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa [77] đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, công tác quản lý lễ hội truyền thống (QLLH) làng nghề tại Thủ đô vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống nghiêm trọng. Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ việc phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận lễ hội thuần túy dưới góc độ dân tộc học, văn hóa học dân gian hoặc quản lý lễ hội nói chung, mà thiếu vắng việc soi chiếu cơ chế tương tác hành vi giữa cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng làng nghề thông qua hệ thống lý thuyết liên ngành.
Nhằm giải quyết triệt để vấn đề này, luận án xác lập hệ thống 04 câu hỏi nghiên cứu:
- Nhà nước và cộng đồng có vai trò như thế nào trong QLLH truyền thống làng nghề?
- Tương tác vai trò giữa Nhà nước và cộng đồng ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả QLLH làng nghề và những điểm đặc thù của loại hình này là gì?
- Những vấn đề bất cập nào nảy sinh trong thực thi vai trò, đặc biệt là hiện tượng quá tải vai trò của cộng đồng?
- Cần xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nào để tối ưu hóa vai trò của cả hai chủ thể?
Tương ứng với đó là 05 giả thuyết nghiên cứu (H1: Nhận thức về giá trị lễ hội tỷ lệ thuận với mức độ hoàn thành vai trò; H2: Sự đồng thuận giữa Nhà nước và cộng đồng quyết định hiệu quả quản lý; H3: Hiệu lực định hướng, thiết kế và điều chỉnh của Nhà nước quyết định sự ổn định của lễ hội; H4: Tính tự chủ và liên kết nội tại của cộng đồng quyết định sức sống di sản; H5: Hiện tượng quá tải vai trò cộng đồng xuất hiện khi Nhà nước thu hẹp trách nhiệm mà thiếu cơ chế hỗ trợ). Luận án vận dụng Lý thuyết vai trò (Role Theory) làm khung lý thuyết nền tảng, tập trung khảo sát 40 lễ hội làng nghề trên địa bàn 30 quận/huyện/thị xã trong khung thời gian 2015–2021, chọn mẫu chuyên sâu tại 04 địa bàn đại diện: Đình Kim Ngân - Hoàn Kiếm (phố nghề), Vạn Phúc - Hà Đông (thương mại liên vùng), Bát Tràng - Gia Lâm (thương mại - du lịch) và Bình Đà - Thanh Oai (nông nghiệp chuyển đổi).
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ BỐI CẢNH DI SẢN THỦ ĐÔ HÀ NỘI │
│ 5.922 Di tích lịch sử | 1.793 Di sản phi vật thể | 1.350 Làng nghề │
└────────────────────────────────┬────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU CỐT LÕI │
│ Thiếu khung lý thuyết liên ngành (Role Theory) đánh giá hành vi│
│ chủ thể quản lý và cơ chế giải quyết xung đột/quá tải vai trò │
└────────────────────────────────┬────────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ KHUNG PHÂN TÍCH TƯƠNG TÁC VAI TRÒ │
│ │
│ NHÀ NƯỚC (5 Vai trò) CỘNG ĐỒNG (5 Vai trò) │
│ - Định hướng chỉ đạo - Tự chủ │
│ - Thiết kế - Chủ động, tích cực │
│ - Duy trì, thúc đẩy ◄────────────► - Thực hiện │
│ - Điều chỉnh - Quyết định │
│ - Phối hợp - Phối hợp │
└─────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Literature Review và Positioning
Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về quản lý lễ hội thể hiện sự phân hóa rõ rệt thành hai luồng quan điểm chính về vai trò của các chủ thể:
Luồng quan điểm thứ nhất nhấn mạnh vai trò trung tâm điều phối của Nhà nước và các thiết chế công quyền. Donald Getz, Tommy Andersson và Mia Larson (2006) khi nghiên cứu 7 lễ hội tại Calgary (Canada) và 6 lễ hội tại Thụy Điển đã chỉ ra rằng chính quyền thành phố giữ vai trò quan trọng nhất trong việc kiểm soát không gian, cấp phép và cung cấp dịch vụ hạ tầng công [112]. Tiếp tục phát triển hướng tiếp cận này, Angelo Presenza và Simone Iocca (2012) khảo sát các lễ hội âm nhạc tại Ý, ghi nhận 14,58% lễ hội do cơ quan nhà nước trực tiếp điều hành và khẳng định chính quyền đóng vai trò quyết định trong việc bảo trợ tài chính và điều phối liên ngành [129]. Tại Việt Nam, Bùi Hoài Sơn (2007, 2009) [73], [74], Đặng Thị Bích Liên (2013) [43] và Từ Thị Loan (2012) [48] khẳng định Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc kiến tạo thể chế, ban hành quy chuẩn và định hướng giá trị tư tưởng cho lễ hội truyền thống.
Trái lại, luồng quan điểm thứ hai đề cao tuyệt đối tính tự quản và quyền năng của cộng đồng bản địa. Tommy Andersson và Donald Getz (2008) khi phân tích lễ hội truyền thống Thụy Điển nhận thấy mức độ phụ thuộc vào Nhà nước chỉ đạt 2,85/7 điểm, minh chứng cho tính độc lập cao của các tổ chức dân sự [103]. Von Silke Lewinski (2008) [124], Lourdes Arizpe (2013) [103] và Michelle L. Stefano cùng cộng sự (2014) [135] đồng thuận rằng cộng đồng là chủ thể sáng tạo, sở hữu và duy trì sức sống của di sản văn hóa phi vật thể. Tại Việt Nam, Nguyễn Chí Bền (2005) [1], Lê Thị Minh Lý (2010) [52], Lương Hồng Quang (2010) [66] và Nguyễn Văn Huy (2012) [33] kiên quyết phê phán hiện tượng hành chính hóa, "làm hộ dân", đồng thời kêu gọi trả lại quyền tự quyết cho cộng đồng làng xã.
Tranh luận học thuật cốt lõi nảy sinh giữa hai trường phái: Một bên cảnh báo sự buông lỏng của Nhà nước sẽ dẫn tới thương mại hóa, mê tín dị đoan và biến dạng nghi lễ (B. Shine Cho et al., 2019 [109]); bên kia lại chỉ trích sự can thiệp hành chính thô bạo sẽ triệt tiêu tính thiêng và tính tự nguyện của nhân dân. Luận án định vị nghiên cứu vào điểm giao thoa này, giải quyết mâu thuẫn bằng cách tiếp cận Lý thuyết vai trò, chứng minh rằng quản lý lễ hội làng nghề không phải là trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game) mà là một cấu trúc tương tác động, đòi hỏi sự cân bằng kỳ vọng và phân định ranh giới trách nhiệm rõ ràng giữa Nhà nước và cộng đồng.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết vai trò vốn khởi nguồn từ tâm lý học xã hội và xã hội học cấu trúc với các đại diện tiêu biểu như George Herbert Mead (1934), Ralph Linton (1936), Bruce Biddle (1979, 1986) [106], [118] và Thomas & Biddle (1966), đưa lý thuyết này vào địa hạt khoa học quản lý văn hóa tại Việt Nam. Công trình kế thừa các luận điểm về sự đồng thuận kỳ vọng của Sheryl L. Shivers-Blackwell (2004) [134], tương tác đa vai trò của Anne J. Broderick (1998) [104], nhận thức vai trò tiêu dùng của Jodie Whelan (2014) [121] và khoảng cách hiệu suất - kỳ vọng của Chekitan S. Dev (1989) [108] để xây dựng hệ thống khái niệm chuẩn xác:
- Lễ hội truyền thống làng nghề: "Là một hình thức văn hóa của cộng đồng cư dân làng nghề, lễ hội tổ chức để tôn vinh tổ nghề - người đã mang nghề thủ công truyền dạy cho người dân, tổ nghề cũng có thể là người thực, có thể là nhân vật huyền thoại. Trong lễ hội, ngoài ý nghĩa tôn vinh tổ nghề còn là dịp để tôn vinh nghề nghiệp, tổ chức thi tay nghề và dâng lên tổ nghề những sản phẩm của nghề nghiệp. Lễ hội truyền thống làng nghề là dịp để thể hiện sự tiếp nối văn hóa từ truyền thống đến hiện đại".
- Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề: "Là hoạt động có tổ chức, có hướng đích của các chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Các chủ thể đều phát huy hết vai trò chức trách, chức năng, nhiệm vụ cụ thể để đạt tới mục tiêu, góp phần nâng cao đời sống văn hóa cho cộng đồng cư dân làng nghề, góp phần phát triển kinh tế xã hội cho các làng nghề trong bối cảnh xã hội phát triển hiện nay".
┌────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ CẤU TRÚC ĐỐI ỨNG 5 VAI TRÒ QUẢN LÝ │
├────────────────────────────────────────┬───────────────────────────────────────────────┤
│ CHỦ THỂ NHÀ NƯỚC (QUẢN LÝ VĨ MÔ) │ CHỦ THỂ CỘNG ĐỒNG (QUẢN LÝ VI MÔ) │
├────────────────────────────────────────┼───────────────────────────────────────────────┤
│ 1. Vai trò định hướng chỉ đạo │ 1. Vai trò tự chủ │
│ 2. Vai trò thiết kế │ 2. Vai trò chủ động, tích cực │
│ 3. Vai trò duy trì, thúc đẩy │ 3. Vai trò thực hiện │
│ 4. Vai trò điều chỉnh (kiểm tra, xử lý)│ 4. Vai trò quyết định │
│ 5. Vai trò phối hợp │ 5. Vai trò phối hợp │
└────────────────────────────────────────┴───────────────────────────────────────────────┘
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng 03 lý thuyết: Lý thuyết vai trò (Role Theory), Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) và Lý thuyết quản trị di sản văn hóa phi vật thể. Luận án lượng hóa và mô hình hóa hoạt động quản lý thành 04 nhóm nhiệm vụ của Nhà nước (Xây dựng, ban hành văn bản; Hướng dẫn tổ chức thực hiện; Đảm bảo điều kiện tổ chức; Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm) đối chiếu trực tiếp với 04 nhiệm vụ của Cộng đồng (Xây dựng kế hoạch, kịch bản; Thực hành lễ hội và di sản; Huy động nguồn lực nhân lực - tài chính; Giám sát thực thi). Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập chặt chẽ trong phạm vi các cộng đồng làng nghề truyền thống có sự đan xen giữa không gian kinh tế nghề nghiệp và không gian văn hóa tâm linh tại các đô thị đang trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh chóng.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án tuân thủ thế giới quan thực chứng kết hợp giải nghĩa (Interpretivism & Critical Realism), triển khai thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods Research) đa cấp độ (cấp thành phố, quận/huyện, phường/xã và thôn/làng nghề). Phạm vi nghiên cứu bao quát 40 lễ hội làng nghề tại Hà Nội, phân bổ mẫu khảo sát thực địa sâu sắc trên 04 mô hình không gian kinh tế - xã hội đặc thù:
- Mô hình phố nghề nội đô: Lễ hội Đình Kim Ngân, phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm (thờ Tổ bách nghệ Hiên Viên và Thượng thư Lưu Xuân Tín - "Đình hai ông", diện tích di tích 575m² xếp hạng quốc gia năm 1992).
- Mô hình làng nghề thương mại liên vùng: Lễ hội Lụa Vạn Phúc, quận Hà Đông (thờ Thành hoàng - Khởi tổ nghề dệt Ả Lã Đê Nương).
- Mô hình làng nghề thương mại - du lịch: Lễ hội Gốm Bát Tràng, huyện Gia Lâm (thờ Lục vị Thành Hoàng, đứng đầu là Lưu Thiên Tử Đại vương Lưu Cơ, đình xếp hạng quốc gia năm 2005).
- Mô hình làng nghề nông nghiệp chuyển đổi: Lễ hội Bình Đà, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai (thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân, sở hữu Bảo vật quốc gia bức phù điêu hơn 1.000 năm tuổi chế tác thời vua Đinh Tiên Hoàng).
┌────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ HỆ THỐNG 4 MÔ HÌNH LỄ HỘI LÀNG NGHỀ KHẢO SÁT │
├──────────────────────┬──────────────────────┬───────────────────┬──────────────────────┤
│ ĐÌNH KIM NGÂN │ VẠN PHÚC │ BÁT TRÀNG │ BÌNH ĐÀ │
│ (Quận Hoàn Kiếm) │ (Quận Hà Đông) │ (Huyện Gia Lâm) │ (Huyện Thanh Oai) │
├──────────────────────┼──────────────────────┼───────────────────┼──────────────────────┤
│ Phố nghề nội đô │ Thương mại liên vùng │ Thương mại du lịch│ Nông nghiệp đổi nghề │
│ Thờ: Hiên Viên & │ Thờ: Đức Khởi tổ │ Thờ: Lục vị Thành │ Thờ: Quốc Tổ │
│ Lưu Xuân Tín │ Ả Lã Đê Nương │ hoàng (Lưu Cơ) │ Lạc Long Quân │
│ Quy mô di tích: 575m²│ Đình quy mô ~300m² │ Tu bổ năm 2010 │ Bảo vật quốc gia │
│ Xếp hạng QG: 1992 │ Tu bổ: 1877, 2012 │ Xếp hạng QG: 2005 │ Di sản QG đầu tiên HN│
└──────────────────────┴──────────────────────┴───────────────────┴──────────────────────┘
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập dữ liệu được kiểm soát nghiêm ngặt qua 4 vòng tam giác giác hóa (Triangulation: dữ liệu thứ cấp, khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn sâu và quan sát tham dự):
- Khảo sát bảng hỏi: Tổng số 350 phiếu phát ra, thu về 330 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi 94,3%), gồm 32 phiếu từ Cán bộ quản lý văn hóa (đạt 100%) và 298 phiếu từ Cộng đồng cư dân, nghệ nhân, doanh nghiệp và hiệp hội làng nghề (đạt 93,7%).
- Phỏng vấn chuyên sâu: Tiến hành 20 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân và nhóm tập trung với lãnh đạo Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Phòng Văn hóa Thông tin quận Hà Đông, Gia Lâm, Ban Quản lý di tích, nghệ nhân và chủ doanh nghiệp; toàn bộ dữ liệu phỏng vấn được ghi âm, gỡ băng và mã hóa bảo mật từ PV01 đến PV31.
- Công cụ đo lường: Thang đo Likert 5 mức độ được chuẩn hóa với các khoảng điểm đánh giá tường minh:
┌────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ BẢNG ĐỐI CHIẾU KHOẢNG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ THANG ĐO LIKERT │
├──────────────────────────┬─────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ KHOẢNG ĐIỂM │ MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ │
├──────────────────────────┼─────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ 1.00 – 1.60 │ Kém, phải lập kế hoạch để điều chỉnh ngay │
│ 1.61 – 2.40 │ Chấp nhận được, cần tiếp tục cải thiện các hoạt động │
│ 2.41 – 3.20 │ Tương đối tốt, cần phát huy điểm mạnh và khắc phục hạn chế │
│ 3.21 – 4.20 │ Tốt, cần tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả │
│ 4.21 – 5.00 │ Rất tốt, cần được phổ biến và nhân rộng │
└──────────────────────────┴─────────────────────────────────────────────────────────────┘
Data và phân tích
Dữ liệu định lượng được làm sạch, kiểm dò lỗi nhập liệu và phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %, điểm trung bình Mean, độ lệch chuẩn) bằng phần mềm Microsoft Excel. Kết quả phân tích định lượng được kiểm chứng chéo với dữ liệu định tính trích xuất từ các biên bản phỏng vấn sâu (mã hóa PV) và tài liệu quan sát thực địa. Luận án thực hiện so sánh đối chuẩn giữa 04 nhóm làng nghề nhằm xác định sự sai biệt về mức độ thỏa mãn kỳ vọng vai trò giữa các khu vực có trình độ thương mại hóa khác nhau.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
-
Sự phân hóa quy mô và sự lệch pha trong can thiệp của Nhà nước: Toàn thành phố có 40 lễ hội làng nghề phân bố tại 30 quận/huyện (tập trung cao tại Phú Xuyên: 05 lễ hội, Ứng Hòa: 04, Hà Đông: 03, Thanh Oai: 03, Thường Tín: 03; trong đó 16 lễ hội tổ chức ở đình, 13 ở đền thờ Tổ nghề và 11 ở cả hai nơi). Tuy nhiên, có tới 37/40 lễ hội (92,5%) diễn ra thuần túy ở quy mô làng xã, chỉ có 03 lễ hội (7,5%) được nâng cấp lên quy mô cấp quận/thành phố gồm Đình Kim Ngân, Vạn Phúc và Bát Tràng. Sự đầu tư ngân sách và can thiệp quản lý của Nhà nước tập trung chủ yếu vào 3 lễ hội lớn này nhằm phục vụ xúc tiến du lịch, trong khi 37 lễ hội còn lại gần như bị "khoán trắng" cho cơ sở.
-
Hiện tượng "quá tải vai trò" (Role Overload) của cộng đồng làng nghề: Dữ liệu thực chứng chứng minh gánh nặng tổ chức dồn ép lên vai cộng đồng cư dân. Chi phí tổ chức một kỳ lễ hội làng nghề dao động từ 300 đến 350 triệu đồng, trong đó nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước chỉ chiếm tỷ lệ không đáng kể; cộng đồng phải tự chủ huy động từ 85% đến 95% tổng kinh phí qua con đường xã hội hóa, đồng thời đảm nhiệm toàn bộ khâu chuẩn bị kịch bản, tế lễ, hậu cần và an ninh trật tự. Điều này dẫn tới sự kiệt sức của bộ máy tự quản cơ sở và gây áp lực tài chính lên các hộ làm nghề.
-
Khủng hoảng xung đột vai trò giữa bảo tồn tính thiêng và áp lực thương mại hóa: Tại các làng nghề có tốc độ đô thị hóa và kinh tế phát triển mạnh như Vạn Phúc và Bát Tràng, xuất hiện sự xung đột gay gắt giữa kỳ vọng duy trì không gian thiêng truyền thống của các bô lão với kỳ vọng khai thác thương mại, bán hàng của tiểu thương và doanh nghiệp trẻ. Nhiều hoạt động hội chợ, trình diễn thương mại lấn át không gian nghi lễ cổ truyền, làm suy giảm tính tôn nghiêm của di tích.
-
Điểm nghẽn trong vai trò thiết kế và điều chỉnh của Nhà nước: Công tác quản lý nhà nước bộc lộ hạn chế lớn ở khâu hướng dẫn thiết kế kịch bản và thanh tra xử lý vi phạm. Việc ban hành văn bản mang tính chung chung, chưa phân định đặc thù giữa lễ hội làng nghề thủ công với lễ hội nông nghiệp truyền thống; công tác kiểm tra mang tính mùa vụ, thiếu chế tài xử lý triệt để hiện tượng thương mại hóa biến tướng, ép giá du khách và ô nhiễm môi trường rác thải làng nghề trong thời gian diễn ra hội.
┌────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ CHU TRÌNH NGUYÊN NHÂN - HỆ QUẢ CỦA QUÁ TẢI VAI TRÒ │
│ │
│ NHÀ NƯỚC: Hỗ trợ tài chính thấp (<15%) & "Khoán trắng" khâu tổ chức cơ sở │
│ │ │
│ ▼ │
│ CỘNG ĐỒNG: Gánh vác 85-95% kinh phí (300-350 triệu VNĐ) + Toàn bộ nhân lực │
│ │ │
│ ▼ │
│ HỆ QUẢ XÃ HỘI HỌC: Quá tải vai trò + Buộc phải thương mại hóa để bù chi phí │
│ │ │
│ ▼ │
│ XUNG ĐỘT KHÔNG GIAN: Thương mại lấn át tính thiêng ◄──► Biến dạng nghi lễ cổ truyền │
└────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Khẳng định giá trị giải thích vượt trội của Lý thuyết vai trò trong khoa học quản lý văn hóa; cung cấp khung phân tích 5x5 giúp lượng hóa các mối quan hệ tương tác chủ thể trong quản trị di sản phi vật thể tại các quốc gia đang phát triển.
- Về phương diện phương pháp luận: Thiết lập quy trình đánh giá kết hợp giữa thang đo khoảng điểm Likert và mã hóa định tính phỏng vấn sâu chuyên gia (PV01 - PV31), có khả năng tái lặp cho nghiên cứu quản lý lễ hội tại các địa phương khác như Huế, Bắc Ninh, Nam Định.
- Về chính sách và thực tiễn:
- Hoàn thiện thể chế: Xây dựng Bộ tiêu chí đặc thù về quản lý lễ hội làng nghề trực thuộc Quy chế quản lý lễ hội Hà Nội.
- Phân cấp quản lý thực chất: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, bảo tồn không gian di tích và kiểm soát an ninh trật tự; trao quyền chủ thể tuyệt đối cho Ban Quản lý di tích và cộng đồng trong thực hành nghi lễ và điều hành ngân sách tự nguyện.
- Cơ chế đối tác công - tư (PPP) văn hóa: Thiết lập quỹ bảo tồn di sản làng nghề với sự tham gia đóng góp minh bạch của Hiệp hội làng nghề, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư để xóa bỏ tình trạng quá tải vai trò.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra 03 giới hạn khoa học chưa thể vượt qua do điều kiện thực tế:
- Giới hạn không gian và mẫu khảo sát: Nghiên cứu tập trung khảo sát 04 địa bàn điển hình tại Hà Nội; chưa thể mở rộng khảo sát định lượng toàn bộ 40 lễ hội làng nghề trên toàn thành phố do kinh phí và nhân lực có hạn.
- Tác động ngoại cảnh của đại dịch Covid-19: Giai đoạn khảo sát 2020-2021 trùng với thời điểm bùng phát dịch bệnh, nhiều lễ hội truyền thống bị tạm dừng hoặc thu hẹp quy mô tổ chức, gây ảnh hưởng nhất định đến tính liên tục của dữ liệu quan sát thực địa.
- Độ sâu mô hình định lượng: Chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng phức tạp như Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm định định lượng mức độ tác động của từng chiều kích vai trò đến sự hài lòng của du khách.
Chương trình nghiên cứu tiếp theo (Future Research Agenda) cần mở rộng:
- Ứng dụng mô hình SEM/PLS-SEM phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc vai trò, hình ảnh điểm đến và ý định chi tiêu của khách du lịch lễ hội làng nghề.
- Nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa (cross-cultural comparative study) giữa mô hình quản lý lễ hội phố nghề Hà Nội với mô hình phường hội truyền thống tại Kyoto (Nhật Bản) và Hội An (Việt Nam).
- Đánh giá tác động chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu lễ hội làng nghề theo Quyết định 2139/QĐ-BVHTTDL.
Tác động và ảnh hưởng
- Học thuật: Cung cấp công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam vận dụng Lý thuyết vai trò vào quản lý lễ hội truyền thống làng nghề; tạo nguồn trích dẫn quan trọng cho các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ ngành Quản lý văn hóa, Di sản học và Xã hội học văn hóa.
- Chính sách: Kết quả nghiên cứu là luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, UBND các quận Hoàn Kiếm, Hà Đông, huyện Gia Lâm, Thanh Oai trong việc xây dựng đề án bảo tồn lễ hội gắn với Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô đến năm 2030 theo Nghị quyết 09-NQ/TU.
- Xã hội và kinh tế: Đề xuất mô hình cân bằng lợi ích giúp 1.350 làng nghề Hà Nội khai thác giá trị lễ hội để quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ, tạo sinh kế bền vững cho hàng chục vạn lao động nông thôn mà vẫn bảo tồn nguyên vẹn tính thiêng của di sản.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn hóa và Quản lý: Tiếp cận khung lý thuyết liên ngành tiên tiến, phương pháp thiết kế nghiên cứu hỗn hợp và nguồn tư liệu thực địa phong phú về 40 lễ hội làng nghề.
- Nhà khoa học và giảng viên đại học: Tài liệu tham khảo chuẩn mực trong giảng dạy các chuyên đề Quản lý di sản văn hóa phi vật thể, Chính sách văn hóa và Xã hội học văn hóa.
- Cán bộ quản lý nhà nước về văn hóa: Bộ công cụ đánh giá và hệ thống giải pháp phân định thẩm quyền rõ ràng giữa Nhà nước và cơ sở, giúp giải tỏa áp lực hành chính hóa.
- Nghệ nhân, hiệp hội làng nghề và cộng đồng cư dân: Nắm vững quyền năng chủ thể, cơ chế quản lý tài chính minh bạch và phương thức tổ chức lễ hội gắn liền với phát triển kinh tế thương mại bền vững.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã bản địa hóa và mở rộng Lý thuyết vai trò (Ralph Linton, 1936; Bruce Biddle, 1986) vào lĩnh vực quản trị di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam. Công trình đã xây dựng thành công ma trận tương tác 5x5 đối ứng giữa 5 vai trò vĩ mô của Nhà nước (Định hướng chỉ đạo, Thiết kế, Duy trì thúc đẩy, Điều chỉnh, Phối hợp) và 5 vai trò vi mô của Cộng đồng (Tự chủ, Chủ động tích cực, Thực hiện, Quyết định, Phối hợp), giải quyết thấu đáo câu hỏi về cơ chế phân quyền quản lý lễ hội.
2. Điểm mới về phương pháp luận khi so sánh với các nghiên cứu tiền nhiệm?
Khác với các nghiên cứu thuần túy định tính dân tộc học trước đây (như nghiên cứu của Nguyễn Viết Chức, 2001 [20]; Nguyễn Chí Bền, 2013 [2]), luận án đã kết hợp phương pháp hỗn hợp chuẩn xác: xây dựng thang đo khoảng điểm Likert 5 mức độ trên mẫu 330 phiếu khảo sát thực địa kết hợp đối chuẩn 20 cuộc phỏng vấn sâu mã hóa độc lập (PV01 - PV31) trên 04 mô hình không gian kinh tế làng nghề khác biệt hoàn toàn.
3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ và có ý nghĩa phản biện mạnh nhất?
Phát hiện về nghịch lý "quá tải vai trò" của cộng đồng: Mặc dù chủ trương quản lý luôn khẳng định "trả lễ hội về cho người dân", nhưng trong thực tế, cộng đồng làng nghề đang phải gánh vác tới 85–95% chi phí (từ 300–350 triệu đồng/lễ hội) và toàn bộ trách nhiệm vận hành mà thiếu sự hỗ trợ kỹ thuật và bảo trợ pháp lý tương xứng từ Nhà nước, dẫn đến tình trạng buộc phải thương mại hóa lễ hội để bù đắp thâm hụt tài chính.
4. Quy trình nghiên cứu có cung cấp khả năng tái lập (Replication Protocol) không?
Có. Toàn bộ bảng hỏi khảo sát cấu trúc, khung phỏng vấn sâu chuyên gia, ma trận tiêu chí phân loại 04 mô hình làng nghề và bảng đối chiếu khoảng điểm Likert đều được tường minh hóa chi tiết trong luận án, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lặp quy trình đánh giá tại bất kỳ quần thể di sản làng nghề nào trên toàn quốc.
5. Luận án phác thảo chương trình nghiên cứu 10 năm tới như thế nào?
Chương trình 10 năm tập trung vào 03 trụ cột: (1) Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số GIS mapping 40 lễ hội làng nghề Hà Nội; (2) Thiết lập mô hình kinh tế lượng lượng hóa giá trị kinh tế gián tiếp của lễ hội đối với chuỗi cung ứng sản phẩm thủ công mỹ nghệ; (3) Mở rộng nghiên cứu so sánh quản trị lễ hội phường nghề truyền thống trong khối ASEAN và Đông Á.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thu Phượng là công trình khoa học toàn diện, giải quyết trọn vẹn những điểm nghẽn lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý lễ hội làng nghề tại Hà Nội thông qua các đóng góp vượt bậc:
- Xác lập hệ thống khái niệm chuẩn mực về "Lễ hội truyền thống làng nghề" và "Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề" dưới lăng kính khoa học quản lý văn hóa.
- Tiên phong vận dụng Lý thuyết vai trò để xây dựng khung phân tích tương tác 5 vai trò của Nhà nước và 5 vai trò của Cộng đồng.
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh định lượng về 40 lễ hội làng nghề trên địa bàn 30 quận/huyện của Thủ đô Hà Nội với sự phân hóa sâu sắc về không gian và loại hình nghề.
- Phát hiện và luận giải bản chất xã hội học của hiện tượng quá tải vai trò cộng đồng cùng xung đột không gian thiêng - không gian thương mại tại các làng nghề đô thị hóa.
- Đề xuất hệ thống giải pháp phân cấp quản lý đồng bộ, cơ chế phối hợp đối tác công - tư (PPP) văn hóa, trực tiếp phục vụ chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa và bảo tồn bền vững di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội.