Tổng quan luận án
Công trình được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Phượng với đề tài "Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội", thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số: 9229042) tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Việt Hương.
Về tính cấp thiết, thành phố Hà Nội sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú với 5.922 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 2.396 di tích đã xếp hạng (01 di sản văn hóa thế giới, 12 di tích quốc gia đặc biệt, 1.182 di tích quốc gia và 1.202 di tích cấp thành phố). Về di sản văn hóa phi vật thể, thành phố có 1.793 di sản, bao gồm 1.206 lễ hội, tiêu biểu có Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc Sơn là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cùng 26 di sản trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đồng thời, Hà Nội tập trung khoảng 1.350 làng nghề và làng có nghề (chiếm một phần ba tổng số khoảng 5.400 làng nghề của cả nước), trong đó có hơn 300 làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu.
Công tác quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa và lễ hội được điều chỉnh qua nhiều văn bản: Quyết định số 1230/QĐ-TTg ngày 15/7/2021 phê duyệt Chương trình Bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2025; Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030; Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030; Quyết định số 2139/QĐ-BVHTTDL ngày 16/7/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án "Số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam" giai đoạn 2021-2025; và Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/02/2022 của Thành ủy Hà Nội về "Phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".
Khoảng trống nghiên cứu nảy sinh từ thực tế tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số cơ học. Việc thực hiện vai trò của Nhà nước và cộng đồng tại một số lễ hội truyền thống làng nghề chưa đạt hiệu quả; vai trò thiết kế và điều chỉnh qua kiểm tra, giám sát của Nhà nước chưa chặt chẽ; sự phối hợp giữa hai chủ thể còn hạn chế. Ở một số nơi, vai trò của cộng đồng bị quá tải do khâu triển khai chủ yếu do người dân tự gánh vác, dẫn đến sự thiếu đồng thuận về quyền lợi và nghĩa vụ.
Mục đích nghiên cứu: Đánh giá vai trò của các chủ thể quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội để đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của các chủ thể này trong việc nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
- Xây dựng khung phân tích của luận án.
- Đánh giá vai trò của các chủ thể trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua.
- Xem xét những vấn đề đặt ra từ thực trạng dưới góc nhìn của lý thuyết vai trò, khoa học quản lý, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Nhà nước và cộng đồng có vai trò như thế nào trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề?
- Tương tác vai trò của Nhà nước và cộng đồng có ảnh hưởng như thế nào đến quản lý lễ hội truyền thống làng nghề? Có những điểm khác biệt nào trong quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống làng nghề?
- Những vấn đề đặt ra khi thực hiện vai trò của từng chủ thể? Liệu có xuất hiện quá tải vai trò khi vai trò của cộng đồng ngày càng tăng?
- Cần những giải pháp nào để nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề?
Giả thuyết nghiên cứu:
- Nhận thức của Nhà nước và cộng đồng về giá trị của lễ hội truyền thống làng nghề càng tốt thì càng nâng cao được vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
- Nếu có sự đồng thuận giữa vai trò của Nhà nước và vai trò của cộng đồng thì sẽ nâng cao được vai trò quản lý lễ hội làng nghề truyền thống của cả Nhà nước và cộng đồng.
- Vai trò định hướng, thiết kế, duy trì và thúc đẩy lễ hội truyền thống làng nghề càng được phát huy tốt thì càng nâng cao được vai trò của Nhà nước trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
- Cộng đồng càng tự chủ, chủ động, tích cực, phối hợp với nhau tốt thì càng nâng cao được vai trò quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
- Đã có sự xuất hiện dấu hiệu quá tải vai trò của cộng đồng khi Nhà nước tham gia ít hơn vào quản lý lễ hội truyền thống làng nghề.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề được tổ chức ở quy mô cấp phường/xã, quận/huyện, thành phố theo 4 nhóm loại hình làng nghề khác nhau.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào vai trò của Nhà nước và cộng đồng thể hiện qua hoạt động quản lý lễ hội truyền thống làng nghề (không nghiên cứu các bên liên quan khác).
- Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn Hà Nội, đi sâu vào 04 lễ hội mang tính đại diện: Lễ hội Đình Kim Ngân, Hàng Bạc (mô hình lễ hội phố nghề, quận Hoàn Kiếm); Lễ hội làng nghề Lụa Vạn Phúc (mô hình làng nghề thương mại liên vùng, quận Hà Đông); Lễ hội làng nghề Gốm Bát Tràng (mô hình làng nghề thương mại - du lịch, huyện Gia Lâm); Lễ hội làng pháo Bình Đà (mô hình làng nghề nông nghiệp, chuyển đổi ngành nghề, huyện Thanh Oai).
- Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý số liệu khảo sát trong giai đoạn 2015 - 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và tổng thuật các công trình nghiên cứu đi trước theo 4 nhóm định hướng:
Nhóm nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong quản lý lễ hội:
- Các nghiên cứu quốc tế: Donald Getz, Tommy Andersson và Mia Larson (2006) khảo sát 7 lễ hội tại Calgary (Canada) và 6 lễ hội tại Thụy Điển, phân nhóm các bên liên quan và kết luận vai trò của chính quyền thành phố đạt mức quan trọng nhất ở 2/7 lễ hội tại Canada và 3/6 lễ hội tại Thụy Điển; Tommy D. Andersson và Donald Getz (2008) chỉ ra mức độ phụ thuộc của lễ hội Thụy Điển vào Nhà nước đạt điểm số 2,85/7; Angelo Presenza và Simone Iocca (2012) khảo sát lễ hội âm nhạc tại Ý, ghi nhận 14,58% lễ hội do cơ quan nhà nước tổ chức; B. Shine Cho và cộng sự (2019) phân tích việc phân bổ nguồn lực công và giới hạn năng lực quản lý lễ hội của Nhà nước tại Hàn Quốc.
- Các nghiên cứu trong nước: Bùi Hoài Sơn (2007, 2009) tiếp cận lễ hội dưới góc độ di sản văn hóa phi vật thể, xác định Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo, ban hành, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; Nguyễn Hữu Thức (2011) xác định chính quyền là cơ quan quản lý, hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ người dân; Đặng Thị Bích Liên (2013), Từ Thị Loan (2010, 2012) nhấn mạnh vai trò định hướng của cơ quan quản lý chuyên ngành; Trần Hữu Sơn (2015) phân loại 3 mô hình quản lý lễ hội (cộng đồng tự quản có giám sát, kết hợp tự quản với hỗ trợ nhà nước, và quản lý do Nhà nước chỉ đạo chặt chẽ); Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú (2004), Phạm Thị Thanh Quy (2009), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012) đề xuất phân cấp trách nhiệm chính quyền trong quản lý lễ hội.
Nhóm nghiên cứu về vai trò của cộng đồng trong quản lý lễ hội:
- Các nghiên cứu quốc tế: Von Silke Lewinski (2008) nghiên cứu quyền của cư dân bản địa đối với nguồn lực văn hóa; Dawnhee Yim (2009) khẳng định sự cần thiết của chủ thể trong phương thức quản lý di sản; Lourdes Arizpe (2013) phân tích mức độ nhận thức và tự hào của cộng đồng; Michelle L. Stefano, Peter Davis, Gerard (2014) xác nhận vai trò cộng đồng trong việc tạo giá trị và bảo vệ di sản phi vật thể.
- Các nghiên cứu trong nước: Nguyễn Chí Bền (2005) xác định cộng đồng là chủ thể thực hành, sáng tạo và hưởng thụ; Lê Thị Minh Lý (2010) coi cộng đồng là đối tác làm việc của nhà quản lý văn hóa; Từ Thị Loan (2010, 2012) đề xuất trao trả quyền tự quản cho cộng đồng, xây dựng tiêu chí phân bổ nghĩa vụ và quyền lợi; Nguyễn Văn Huy (2012) cảnh báo hiện tượng Nhà nước can thiệp sâu dẫn đến làm hộ dân; Lương Hồng Quang (2010) đánh giá năng lực tự quản nông thôn qua thiết chế làng xã; Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng (1993), Phạm Cao Quý (2016) phân tích sự thương thỏa giữa các dòng họ, cấu trúc giới và sự biến đổi trong thực hành lễ hội làng.
Nhóm nghiên cứu về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề tại Hà Nội:
- Nguyễn Viết Chức chủ biên (2001) giới thiệu 10 lễ hội tiêu biểu và giải pháp xã hội hóa; Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (2012) phân tích giá trị lễ hội trong đời sống đương đại; Nguyễn Chí Bền (2013) chỉ rõ các thách thức bảo tồn di sản tại Thủ đô; Hoàng Thị Ngọc Lan (2007), Bùi Thế Quân (2010), Nguyễn Thị Bích Thủy (2014) khảo sát thực trạng bất cập trong phát triển làng nghề và đề xuất giải pháp tuyên truyền, bảo tồn; các luận văn, luận án của Nguyễn Thanh Phương (2011), Lê Thu Giang (2011), Trần Thu Hà (2014), Nguyễn Thị Mỹ Linh (2015), Nghiêm Thị Hường (2016), Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017) khảo sát quản lý văn hóa và lễ hội ở các địa bàn quận, huyện cụ thể.
Nhóm nghiên cứu vận dụng lý thuyết vai trò:
- Sheryl L. Shivers-Blackwell (2004) nghiên cứu sự đồng thuận về kỳ vọng vai trò giữa các vị trí trong tổ chức; Anne J. Broderick (1998) phân tích sự xung đột vai trò phát sinh do chênh lệch giữa kỳ vọng và thực thi dịch vụ; Jodie Whelan (2014) sử dụng lý thuyết vai trò nhận thức; Chekitan S. Dev (1989) nghiên cứu mối liên hệ giữa hiệu suất thực tế và kỳ vọng vai trò.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình đi trước chỉ tập trung vào lễ hội truyền thống nói chung hoặc tiếp cận dưới giác độ thuần túy lịch sử, văn hóa dân gian. Việc nghiên cứu quản lý lễ hội truyền thống làng nghề tại Hà Nội dưới góc độ khoa học quản lý văn hóa, đặc biệt là ứng dụng lý thuyết vai trò để làm rõ cơ chế tương tác, sự đồng thuận, xung đột và hiện tượng quá tải vai trò giữa Nhà nước và cộng đồng thông qua các hoạt động quản lý cụ thể, vẫn là một khoảng trống học thuật chưa được khai thác.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án làm rõ các khái niệm công cụ:
- Lễ hội truyền thống: Tiếp cận định nghĩa tại văn bản quản lý nhà nước: "Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân".
- Làng nghề: Kế thừa định nghĩa của Bùi Xuân Đính (2004): là các làng mà phần đông cư dân sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề thủ công, tạo ra các sản phẩm mang tính cách riêng, thời gian làm nghề và thu nhập của nghề chiếm tỉ lệ lớn nhất so với hoạt động kinh tế khác, ảnh hưởng đến thiết chế tổ chức và phong tục tập quán của làng.
- Lễ hội truyền thống làng nghề: Khái niệm do tác giả xây dựng: "Lễ hội truyền thống làng nghề là một hình thức văn hóa của cộng đồng cư dân làng nghề, lễ hội tổ chức để tôn vinh tổ nghề - người đã mang nghề thủ công truyền dạy cho người dân, tổ nghề cũng có thể là người thực, có thể là nhân vật huyền thoại. Trong lễ hội, ngoài ý nghĩa tôn vinh tổ nghề còn là dịp để tôn vinh nghề nghiệp, tổ chức thi tay nghề và dâng lên tổ nghề những sản phẩm của nghề nghiệp. Lễ hội truyền thống làng nghề là dịp để thể hiện sự tiếp nối văn hóa từ truyền thống đến hiện đại". Đồng thời xác lập 4 tiêu chí nhận diện: (1) Nguồn gốc dân gian diễn ra tại làng nghề; (2) Nhân vật tưởng niệm là tổ nghề hoặc thành hoàng, người có công; (3) Có nghi lễ, diễn xướng liên quan đến nghề nghiệp; (4) Giới thiệu sản phẩm làng nghề cho khách dự hội.
- Quản lý và Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề: Quản lý được định nghĩa là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề là hoạt động có tổ chức, có hướng đích của các chủ thể nhằm phát huy đầy đủ chức trách, nâng cao đời sống văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội làng nghề.
Khung phân tích dựa trên lý thuyết vai trò:
Lý thuyết vai trò có nguồn gốc từ George Herbert Mead (tâm lý xã hội) và Ralph Linton (xã hội học), phát triển qua 3 giai đoạn: tiền thân (cuối thế kỷ 19: Cooley, Durkheim, Dewey), phát triển khái niệm (thập niên 1930: Mead, Moreno, Linton) và nghiên cứu thực nghiệm (sau Thế chiến II: Biddle, Thomas). Luận án vận dụng hai nhánh:
- Lý thuyết vai trò tổ chức (Biddle, 1986): xem xét vị trí chuẩn mực và tương tác của các tổ chức chính thức với người dân, nhận diện xung đột và quá tải vai trò.
- Lý thuyết vai trò nhận thức (Whelan, 2014): phân tích tương quan giữa kỳ vọng, vai trò và hành vi thực tế.
Khung phân tích của luận án xác định hai chủ thể chính:
- Vai trò của Nhà nước gồm 5 vai trò: (1) Vai trò định hướng chỉ đạo; (2) Vai trò thiết kế; (3) Vai trò duy trì, thúc đẩy; (4) Vai trò điều chỉnh; (5) Vai trò phối hợp.
- Vai trò của Cộng đồng gồm 5 vai trò: (1) Vai trò tự chủ; (2) Vai trò chủ động, tích cực; (3) Vai trò thực hiện; (4) Vai trò quyết định; (5) Vai trò phối hợp.
Hoạt động quản lý cụ thể của từng chủ thể:
- Nhà nước: (1) Xây dựng, ban hành văn bản quản lý; (2) Hướng dẫn tổ chức thực hiện; (3) Đảm bảo các điều kiện để tổ chức lễ hội; (4) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
- Cộng đồng: (1) Xây dựng kế hoạch, kịch bản tổ chức lễ hội; (2) Thực hành lễ hội/thực hành di sản; (3) Tham gia huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài chính); (4) Tham gia giám sát các hoạt động lễ hội.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thu thập, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương của Đảng, Nhà nước và tài liệu thống kê.
- Phương pháp mô hình hóa: Xây dựng sơ đồ phân tích tương tác vai trò giữa Nhà nước và cộng đồng qua các hoạt động quản lý.
- Phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi: Thực hiện tại các quận (Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hà Đông) và huyện (Gia Lâm, Thanh Oai). Phát ra 350 phiếu khảo sát (32 phiếu cán bộ quản lý, 318 phiếu cộng đồng gồm dân cư, hiệp hội làng nghề, doanh nghiệp). Thu về 330 phiếu hợp lệ (32 phiếu cán bộ quản lý, 298 phiếu cộng đồng). Dữ liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, đánh giá mức độ hài lòng và mức độ đáp ứng theo thang đo Likert 5 mức.
| Điểm số |
Mức độ đánh giá theo thang đo Likert |
| 1,00 - 1,60 |
Kém, phải lập kế hoạch để điều chỉnh ngay |
| 1,61 - 2,40 |
Chấp nhận được, cần tiếp tục cải thiện các hoạt động |
| 2,41 - 3,20 |
Trung bình |
| 3,21 - 4,20 |
Tương đối tốt, cần phát huy hơn nữa các điểm mạnh và khắc phục một số tồn tại, hạn chế |
| 4,21 - 5,00 |
Rất tốt, cần được phổ biến nhân rộng |
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý văn hóa cấp quận/huyện, phường/xã, Ban quản lý di tích, người dân, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề và doanh nghiệp (được mã hóa từ PV01 đến PV31).
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn của cán bộ Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Phòng Văn hóa và Thông tin quận Hà Đông, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Gia Lâm.
- Phương pháp so sánh: So sánh vai trò giữa 4 mô hình lễ hội làng nghề và so sánh đặc thù quản lý lễ hội làng nghề với lễ hội truyền thống nói chung.
- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Xã hội học và Dân tộc học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề, khái quát về lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương này trình bày lịch sử nghiên cứu, xác lập cơ sở lý thuyết vai trò, hệ thống khái niệm công cụ, và bức tranh toàn cảnh về lễ hội làng nghề tại Thủ đô.
Theo danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của Hà Nội (ban hành kèm theo Quyết định số 1511/QĐ-SVH&TT ngày 06/12/2016), Hà Nội có khoảng 40 lễ hội truyền thống làng nghề. Về cơ cấu ngành nghề:
- Nghề mộc: 08 lễ hội;
- Nghề dệt, may: 05 lễ hội;
- Nghề chế biến thực phẩm: 04 lễ hội;
- Nghề làm vàng bạc: 03 lễ hội;
- Nghề gốm: 02 lễ hội;
- Nghề làm nón: 02 lễ hội;
- Các nghề đơn lập khác (mây tre đan, thuốc nam, làm hương, làm pháo, đan cỏ tế, nặn tò he, đánh bắt thủy sản...): mỗi nghề có lễ hội riêng tại các làng nghề cụ thể.
Về phân bố và không gian tổ chức:
- Địa bàn: Lễ hội làng nghề có mặt ở cả 30/30 quận, huyện, thị xã nhưng phân bố không đồng đều; tập trung nhiều tại Phú Xuyên (05 lễ hội), Ứng Hòa (04 lễ hội), Hà Đông (03 lễ hội), Thanh Oai (03 lễ hội), Thường Tín (03 lễ hội). Các huyện ngoại thành chiếm tỷ lệ lớn hơn khu vực nội thành (12/18 quận, huyện có lễ hội làng nghề phân bố ở ngoại thành).
- Không gian di tích: 16/40 lễ hội tổ chức tại đình làng (như Thượng Cung, Chuôn Ngoại); 13/40 lễ hội tổ chức tại đền thờ Tổ nghề (như Cao Xá, Kiêu Kỵ); 11/40 lễ hội tổ chức kết hợp ở cả đình làng và đền thờ Tổ nghề (như Vạn Phúc, Bát Tràng).
- Quy mô: 37/40 lễ hội diễn ra ở quy mô làng xã (thông thường định kỳ 5 năm tổ chức hội lớn một lần ở cấp xã, phường như lễ hội Đông Cứu, Thượng Cung năm 2018). Có 03 lễ hội từng được tổ chức với quy mô cấp quận hoặc cấp thành phố: Đình Kim Ngân (Hoàn Kiếm), Vạn Phúc (Hà Đông) và Bát Tràng (Gia Lâm).
Đặc điểm chi tiết của 04 lễ hội được chọn khảo sát chuyên sâu:
| Tiêu chí |
Lễ hội Đình Kim Ngân |
Lễ hội Lụa Vạn Phúc |
Lễ hội Gốm Bát Tràng |
Lễ hội Làng Bình Đà |
| Địa bàn hành chính |
Phường Hàng Bạc, Q. Hoàn Kiếm |
Phường Vạn Phúc, Q. Hà Đông |
Xã Bát Tràng, H. Gia Lâm |
Xã Bình Minh, H. Thanh Oai |
| Loại hình mô hình |
Phố nghề |
Thương mại liên vùng |
Thương mại - du lịch |
Nông nghiệp, chuyển đổi ngành nghề |
| Nhân vật tưởng niệm |
Tổ bách nghệ Hiên Viên và Thành hoàng Lưu Xuân Tín |
Thành hoàng và Khởi tổ nghề dệt Ả Lã Đê Nương |
Lục vị Thành Hoàng (Thánh cả Lưu Thiên Tử đại vương - Lưu Cơ) |
Quốc Tổ Lạc Long Quân |
| Không gian tổ chức |
Đình Kim Ngân (42 Hàng Bạc, diện tích 575m2, chữ "Công") |
Đình làng (300m2, chữ "Đinh") và Đền thờ Tổ nghề |
Đình Bát Tràng (dựng năm 1720 thời Lê Dụ Tông, chữ "Nhị") |
Đình Nội (Hoàng Quy Cung, thế đất Lục long triều hội, chữ "Đinh") |
| Thời gian diễn ra |
Dịp Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4 |
Ngày 15/2 - 17/2 âm lịch (năm 2018 mở tuần lễ văn hóa cấp TP) |
Ngày 14 - 16 tháng Hai âm lịch |
Ngày 25/2 - 06/3 âm lịch (chính hội 01 - 06/3 âm lịch) |
| Nghi thức và diễn xướng đặc trưng |
Rước kiệu qua các phố cổ; trình diễn chạm bạc Đồng Xâm, Kiêu Kỵ, Định Công, Châu Khê |
Rước nước, tắm bài vị, múa Rồng, Đêm hội vân lụa Rồng bay, thi dệt lụa |
Rước nước sông Hồng, lễ Tam sinh, cờ người, hát thờ, thi làm gốm |
Tế cáo Tiền Nhật, trình bò sống, rước lễ 7 thôn, hóa Mã hoàn ký |
| Dấu mốc xếp hạng |
Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (1992) |
Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật |
Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật quốc gia (2005) |
Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đầu tiên của Hà Nội; Phù điêu Bảo vật quốc gia (2010) |
Chương 1 cũng chỉ ra đặc điểm của Hà Nội khi có sự song hành giữa mô hình lễ hội phố nghề (như Đình Kim Ngân tại khu phố cổ) và lễ hội làng nghề truyền thống vùng nông thôn.
Chương 2: Thực trạng vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương này phân tích cơ cấu chủ thể, mối quan hệ phối hợp và việc thực thi vai trò của các chủ thể qua các hoạt động quản lý:
Về phía Nhà nước:
- Xây dựng và ban hành văn bản: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã chuyển biến từ quy chế sang nghị định, tạo hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động lễ hội cả nước và Thủ đô.
- Hướng dẫn tổ chức thực hiện: Phê duyệt kế hoạch tổ chức, định hướng nội dung nghi lễ, trò chơi dân gian, công tác bảo đảm an ninh, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm.
- Đảm bảo điều kiện tổ chức: Hỗ trợ một phần kinh phí tu bổ di tích, lập hồ sơ ghi danh di sản văn hóa phi vật thể, tư liệu hóa lễ hội.
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Ngăn chặn các biểu hiện thương mại hóa, cờ bạc trá hình, mê tín dị đoan trong không gian lễ hội.
Về phía Cộng đồng:
- Xây dựng kế hoạch và kịch bản: Trước lễ hội từ 1-2 tháng, cộng đồng dân cư trực tiếp xây dựng kịch bản chi tiết, phân công nhiệm vụ cho các tiểu ban (đặc biệt tại các lễ hội do cấp xã quản lý).
- Thực hành di sản: Cộng đồng nắm giữ vai trò quyết định trong thực hiện các nghi thức tế lễ, rước kiệu, diễn xướng dân gian và thi thợ giỏi.
- Huy động nguồn lực: Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần kinh phí nhỏ, trong khi chi phí tổ chức một lễ hội làng nghề thực tế dao động từ 300 đến 350 triệu đồng. Toàn bộ nguồn lực tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất chủ yếu dựa vào sự đóng góp tự nguyện của người dân, các dòng họ, nghệ nhân và doanh nghiệp làng nghề.
- Giám sát hoạt động: Giám sát việc thu chi tài chính, bảo đảm an ninh trật tự và ngăn chặn các hành vi tiêu cực phát sinh.
Đánh giá tương tác vai trò theo khung lý thuyết:
- Tồn tại sự chênh lệch giữa kỳ vọng chuẩn mực và thực thi thực tế giữa hai chủ thể.
- Mức độ đồng thuận cao ở khâu duy trì giá trị tâm linh và tôn vinh nghề, nhưng thiếu đồng thuận trong việc phân chia trách nhiệm tài chính và cơ chế vận hành dịch vụ thương mại.
- Hiện tượng quá tải vai trò của cộng đồng xuất hiện rõ rệt tại một số địa phương khi cơ quan nhà nước rút giảm sự tham gia trực tiếp nhưng thiếu hướng dẫn chi tiết, khiến cộng đồng dân cư phải tự giải quyết các áp lực về kinh phí, trật tự xã hội và tổ chức dịch vụ.
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội truyền thống làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội
Căn cứ đề xuất giải pháp xuất phát từ chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Thành ủy Hà Nội (Nghị quyết số 09-NQ/TU), các chiến lược số hóa và bảo tồn di sản của Chính phủ, cùng kết quả điều tra thực nghiệm tại 4 địa bàn. Luận án xây dựng hai nhóm giải pháp:
Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách: Ban hành các hướng dẫn chuyên biệt về quản lý lễ hội truyền thống làng nghề, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp chính quyền cơ sở.
- Đổi mới công tác thiết kế và định hướng: Xây dựng quy hoạch tổ chức lễ hội gắn với tuyến điểm du lịch làng nghề; chuẩn hóa công tác lập hồ sơ kiểm kê, số hóa dữ liệu lễ hội.
- Đảm bảo điều kiện hỗ trợ: Tăng cường đầu tư ngân sách cho công tác tu bổ, tôn tạo các di tích đình, đền làng nghề; hỗ trợ kỹ thuật và truyền thông quảng bá sản phẩm thủ công truyền thống trong lễ hội.
- Tăng cường kiểm tra, điều chỉnh: Thiết lập cơ chế thanh tra liên ngành, phối hợp chặt chẽ với cơ sở để phát hiện, xử lý các sai phạm và giải quyết xung đột lợi ích phát sinh trong lễ hội.
Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng:
- Nâng cao tính tự chủ và năng lực tổ chức: Kiện toàn Ban tổ chức lễ hội và Ban quản lý di tích với sự tham gia của đại diện các dòng họ, người cao tuổi am hiểu phong tục và nghệ nhân làng nghề.
- Đa dạng hóa nguồn lực xã hội hóa: Xây dựng quy chế thu chi tài chính minh bạch, công khai; tạo cơ chế liên kết trách nhiệm và quyền lợi giữa cộng đồng dân cư với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đóng trên địa bàn.
- Phát huy vai trò chủ thể trong thực hành và giám sát: Trao quyền chủ động cho người dân trong việc xây dựng kịch bản nghi lễ, thi tay nghề truyền thống; tăng cường sự giám sát của ban giám sát cộng đồng nhằm ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực.
- Thiết lập cơ chế phối hợp: Xây dựng quy ước, hương ước làng nghề thống nhất mối quan hệ giữa chính quyền cấp xã/phường với cộng đồng dân cư, giải quyết nguy cơ quá tải vai trò của cộng đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Bổ sung và chuẩn hóa khái niệm "Lễ hội truyền thống làng nghề" và "Quản lý lễ hội truyền thống làng nghề" trong chuyên ngành Quản lý văn hóa; xây dựng hệ thống 4 tiêu chí xác định loại hình lễ hội này.
- Ứng dụng lý thuyết vai trò (đặc biệt là vai trò tổ chức và vai trò nhận thức) vào nghiên cứu quản lý di sản, xây dựng khung phân tích gồm 5 vai trò của Nhà nước (định hướng chỉ đạo; thiết kế; duy trì, thúc đẩy; điều chỉnh; phối hợp) và 5 vai trò của cộng đồng (tự chủ; chủ động, tích cực; thực hiện; quyết định; phối hợp), tương ứng với 4 nhóm hoạt động quản lý của mỗi chủ thể.
- Bước đầu luận giải cơ chế tương tác, sự đồng thuận và dấu hiệu quá tải vai trò của cộng đồng; chỉ rõ điểm khác biệt mang tính bản chất giữa quản lý lễ hội làng nghề với lễ hội truyền thống thông thường (sự gắn kết trực tiếp với hoạt động sản xuất, sản phẩm thủ công, không gian phố nghề/làng nghề và vai trò của các nghệ nhân, hiệp hội làng nghề).
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện về 40 lễ hội làng nghề tại Hà Nội dựa trên dữ liệu kiểm kê di sản và khảo sát thực địa giai đoạn 2015-2021.
- Đánh giá định lượng thực trạng qua 330 phiếu điều tra xã hội học và 20 cuộc phỏng vấn sâu, chỉ ra khoảng cách giữa kỳ vọng và thực thi vai trò tại 4 mô hình làng nghề tiêu biểu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp phân định theo hai chủ thể quản lý, làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương trong công tác tổ chức, bảo tồn lễ hội truyền thống làng nghề.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Về nội dung: Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở hai chủ thể trực tiếp là Nhà nước và cộng đồng làng nghề; chưa mở rộng đánh giá chi tiết vai trò của các bên liên quan thứ cấp như khách du lịch vãng lai, các doanh nghiệp lữ hành thương mại ngoài địa bàn.
- Về không gian và thời gian: Khảo sát thực nghiệm chỉ tập trung tại 04 lễ hội đại diện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2021; chưa có điều kiện khảo cứu so sánh mở rộng sang các địa phương có mật độ làng nghề cao khác trên toàn quốc.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát vai trò của các bên liên quan trong mạng lưới du lịch văn hóa làng nghề và chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.
- Nghiên cứu so sánh mô hình quản lý lễ hội truyền thống làng nghề giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với các vùng văn hóa khác, cũng như khảo sát sự biến đổi trong phương thức quản lý sau năm 2021.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học cho Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Phòng Văn hóa và Thông tin các quận, huyện, thị xã trong việc ban hành văn bản hướng dẫn, phân cấp quản lý và xây dựng đề án số hóa lễ hội làng nghề theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
- Đối với nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học và Xã hội học trong việc vận dụng lý thuyết liên ngành (lý thuyết vai trò) để phân tích các hiện tượng quản lý di sản.
- Đối với cộng đồng sở tại: Cung cấp khung định hướng giúp các Ban quản lý di tích, Ban tổ chức lễ hội và Hiệp hội làng nghề hoàn thiện quy chế phối hợp, minh bạch hóa việc quản lý tài chính đóng góp và giảm tải áp lực tổ chức cho người dân.
Câu hỏi thường gặp
Luận án xác lập những tiêu chí nào để nhận diện một lễ hội truyền thống làng nghề?
Luận án xác định 4 tiêu chí cơ bản: (1) Lễ hội có nguồn gốc dân gian mang đầy đủ bản chất của lễ hội dân gian và diễn ra tại các làng nghề; (2) Nhân vật tưởng niệm thường là tổ nghề (người thực hoặc nhân vật huyền thoại) hoặc thành hoàng làng, người có công với làng, với đất nước; (3) Trong lễ hội có tổ chức các nghi lễ, diễn xướng liên quan đến nghề nghiệp; (4) Lễ hội là dịp để giới thiệu sản phẩm của làng nghề cho khách dự hội.
Cơ cấu và quy mô mẫu khảo sát bảng hỏi của luận án được thực hiện ra sao?
Nghiên cứu sinh phát ra tổng cộng 350 phiếu khảo sát tại các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hà Đông và các huyện Gia Lâm, Thanh Oai. Mẫu gồm 32 phiếu cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện, xã và 318 phiếu cộng đồng cư dân (người dân làng nghề, hiệp hội làng nghề, doanh nghiệp). Số phiếu thu về hợp lệ là 330 phiếu (32 phiếu cán bộ quản lý, 298 phiếu cộng đồng). Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và đối chiếu qua thang đo Likert 5 mức độ.
Bốn lễ hội làng nghề được lựa chọn khảo sát chuyên sâu đại diện cho những mô hình nào?
Bốn lễ hội được chọn tương ứng với 4 mô hình đặc trưng trên địa bàn Hà Nội:
- Lễ hội Đình Kim Ngân (phố Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm): mô hình lễ hội truyền thống phố nghề.
- Lễ hội làng nghề Lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông): mô hình lễ hội làng nghề thương mại liên vùng.
- Lễ hội làng nghề Gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm): mô hình lễ hội làng nghề thương mại - du lịch.
- Lễ hội làng pháo Bình Đà (huyện Thanh Oai): mô hình lễ hội làng nghề nông nghiệp, chuyển đổi ngành nghề.
Dữ liệu kiểm kê ghi nhận có bao nhiêu lễ hội truyền thống làng nghề tại Hà Nội và đặc điểm phân bố không gian thờ tự của chúng như thế nào?
Theo Quyết định số 1511/QĐ-SVH&TT ngày 06/12/2016 của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, thành phố có khoảng 40 lễ hội truyền thống làng nghề. Về không gian tổ chức, có 16/40 lễ hội diễn ra ở đình làng; 13/40 lễ hội diễn ra ở đền thờ Tổ nghề; và 11/40 lễ hội kết hợp tổ chức ở cả đình làng và đền thờ Tổ nghề.
Dấu hiệu "quá tải vai trò" của cộng đồng trong quản lý lễ hội làng nghề được luận án nhận diện từ thực tế nào?
Dấu hiệu quá tải thể hiện ở việc Nhà nước hỗ trợ kinh phí trực tiếp rất ít trong khi chi phí tổ chức một lễ hội làng nghề đòi hỏi từ 300 đến 350 triệu đồng. Toàn bộ khâu huy động tài chính, chuẩn bị cơ sở vật chất, xây dựng kịch bản chi tiết và triển khai thực hành lễ hội chủ yếu do người dân và các tổ chức cộng đồng tự đảm nhận, dẫn đến sự quá tải về nhân lực, áp lực tổ chức và thiếu sự đồng thuận cao về nghĩa vụ và quyền lợi giữa các bên.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Phượng là công trình khoa học chuyên ngành Quản lý văn hóa, vận dụng lý thuyết vai trò để phân tích tương tác quản lý lễ hội truyền thống làng nghề tại Hà Nội. Tác giả đã khảo cứu thực trạng 40 lễ hội làng nghề, tập trung làm rõ 4 mô hình đại diện trong giai đoạn 2015 - 2021 qua phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên sâu. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ hệ thống 5 vai trò của Nhà nước, 5 vai trò của cộng đồng, nhận diện hiện tượng quá tải vai trò tại cơ sở và đề xuất hai nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phù hợp với bối cảnh phát triển của Thủ đô.