Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN LÃNG 1. Khái niệm liên quan đến đề tài 1. Lễ hội và phân loại lễ hội Hàng năm, có những sự kiện diễn ra vào những thời điểm nhất định trong năm và ở nhiều địa phương khác nhau. Những sự kiện này có đặc điểm chung là thu hút sự quan tâm của cộng đồng và được biểu hiện ra bên ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau như treo cờ ở các trung tâm văn hóa công cộng của địa phương, treo cờ dọc đường nơi tổ chức sự kiện, tiến hành các nghi lễ trọng thể, trang nghiêm, tôn kính như cúng bái, tế lễ, rước… theo những nghi thức nhất định.
Trong những dịp này, có nhiều hoạt động vui chơi giải trí, biểu diễn nghệ thuật, giao lưu được tổ chức,… Những hoạt động này tạo nên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau và dịp này cũng diễn ra nhiều hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa. Những hoạt động này thường diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian xác định và thể hiện một phần đời sống văn hóa của cộng đồng nên có đông đảo người dân tham gia. Người dân cũng có nhiều tên gọi về những sự kiện này như hội, đám xứ, tiệc làng, hội làng, làng mở hội, hội hè đình đám,… cách gọi này là theo thông lệ và không gian tổ chức bởi đa phần các hoạt động này được tổ chức ở làng, do dân làng tiến hành và để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tâm linh của cộng đồng dân làng. Nói cách khác, người dân gọi các hoạt động này là “hội” và gắn nó với một địa danh tổ chức để tạo thành tên của lễ hội, ví dụ như lễ hội đền Hùng là lễ hội được tổ chức tại khu vực đền Hùng, nhằm tưởng nhớ đến các vị vua Hùng có công dựng nước.
Cũng có khi, người dân gắn từ “hội” với hoạt động chính diễn ra để nói về những sự kiện diễn ra ở đó, ví dụ như: hội Lim Quan họ, hội hát đúm làng Phục Lễ,… 8 Cách gọi về cơ bản là như vậy nhưng để thuận tiện trong việc nghiên cứu và công tác quản lý, các nhà nghiên cứu và quản lý tùy theo mục đích, tính chất, quy mô mà gọi theo những khái niệm như: lễ hội, hội lễ, lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian, lễ hội truyền thống, liên hoan du lịch làng nghề truyền thống, ngày hội văn hóa các dân tộc, lễ hội văn hóa du lịch (festival)… Câu hỏi đặt ra là: lễ hội là gì và việc phân loại lễ hội theo những tiêu chí nào? Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng, hướng tới “xử lý” các mối quan hệ của chính cộng đồng đó. Hoạt động này diễn ra với những hình thức và cấp độ khác nhau, nhằm thoả mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt và lâu dài của các tầng lớp người; thoả mãn những nhu cầu của các cá nhân và tập thể trong môi trường mà họ sinh sống. Với cách hiểu như vậy, hiện nay có rất nhiều lễ hội diễn ra quanh năm vào những thời điểm ghi nhận một sự kiện nào đó của cộng đồng. Ngoài lễ hội truyền thống của đất nước còn có những lễ hội mới, gắn với các sự kiện lịch sử hiện đại, cách mạng; lễ hội sự kiện, gắn với du lịch quảng bá du lịch.
Về phân loại lễ hội, tác giả Đinh Gia Khánh, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, đã dành nhiều trí tuệ và tâm huyết nghiên cứu về lễ hội, đã đưa ra quan điểm phân loại lễ hội dân gian như sau: Có nhiều cách phân loại hội lễ. Cách phân loại đơn giản nhất là chia hội lễ thành hội lễ vốn không có nguồn gốc tôn giáo và hội lễ có nguồn gốc tôn giáo. Hội lễ mà nguồn gốc vốn không phải là tôn giáo vốn có từ rất lâu. Thí dụ như: Hội lễ nguyên thủy gắn với nghi thức phồn thực, với sản xuất nông nghiệp.
Hội lễ tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia thành giai cấp và tôn giáo đã ra đời (Balamôn giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo. 9 Dựa vào đặc điểm không gian tổ chức lễ hội, tác giả Nguyễn Quang Lê phân loại lễ hội dân gian cổ truyền người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ thành 3 loại: Hội đền, hội đình, hội chùa [22]. Ở góc độ quản lý nhà nước trong lĩnh vực lễ hội, ngày 22 tháng 12 năm 2015, Bộ VHTT&DL ban hành Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL quy định về tổ chức lễ hội. Tại điều 3: Các loại hình lễ hội, đã ghi rõ: 1.
Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng. Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch là lễ hội được tổ chức để quảng bá về văn hóa thể thao, du lịch bao gồm: festival, liên hoan văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa - du lịch; tháng văn hóa - du lịch; năm văn hóa - du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch khác. Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam là lễ hội do tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam [5].
Theo Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội được xếp vào loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Như vậy, trong luận văn này, khái niệm “lễ hội” được sử dụng để nói đến một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hoá tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới, là “tấm gương” phản chiếu khá trung thực đời sống văn hoá của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Quản lý lễ hội Quản lý lễ hội là khái niệm chỉ đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lễ hội. Để hiểu đúng về khái niệm này, chúng ta cần lưu tâm đến: - Quy mô lễ hội: cấp làng, cấp xã, cấp quận (huyện), cấp tỉnh (thành phố), cấp quốc gia.
- Không gian tổ chức lễ hội: quần thể di tích lịch sử văn hóa nơi diễn ra các hoạt động chính trong lễ hội, quảng trường… - Thời gian diễn ra lễ hội: theo mùa, hay theo thời khắc thiêng của nhân vật được phụng thờ ở di tích - Chủ thể của lễ hội: nhà nước, người dân Như vậy, quản lý lễ hội có mục đích là làm cho những hoạt động diễn ra được vận hành theo đúng qui luật của văn hóa, nội dung của tế lễ phải phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù hợp và mang lại lợi ích sinh hoạt cho cộng đồng hiện tại. Dưới góc độ quản lý, việc bảo tồn lễ hội truyền thống là làm thế nào để lễ hội và những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội tồn tại và phát huy tác dụng trong đời sống đương đại. Nội dung quản lý lễ hội Theo thông tư 15/2015/TT-BVHTTDL, công tác quản lý lễ hội gồm các công việc sau: Cấp giấy phép tổ chức lễ hội (điều 5). Thành lập BTC lễ hội (điều 6).
Báo cáo công tác tổ chức lễ hội (điều 7). Thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội (điều 8). Tổ chức hoạt động dịch vụ trong khu vực của lễ hội (điều 9) Quản lý thu chi tiền công đức, tài trợ (điều 10) Công tác tuyên truyền trong lễ hội (điều 11) 11 Đảm bảo vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự, phòng, chống cháy nổ, an toàn giao thông trong lễ hội Nói cách khác thì quản lý lễ hội bao gồm một quá trình thực hiện các công đoạn cụ thể như: - Xác định nội dung và phương thức tổ chức - Xây dựng kế hoạch - Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện - Tổng kết và rút kinh nghiệm. Việc quản lý, tổ chức lễ hội bao gồm nhiều phương diện, song có thể quy lại ở những nội dung chính như sau: Thứ nhất, quản lý, tổ chức nội dung hoạt động của lễ hội: Hoạt động này bao gồm các hoạt động thuộc về phần lễ như các nghi lễ, nghi thức tế, lễ, rước, dâng hương, dâng lễ.
Một số lễ hội còn có các sinh hoạt tín ngưỡng mang tính riêng như hầu đồng, phát ấn. Ở phần hội, công tác này tập trung vào các hoạt động như: các diễn xướng dân gian và đương đại, các trò chơi, trò diễn, các chương trình nghệ thuật. Yêu cầu của công tác này là vừa đảm bảo được tính thiêng của các nghi lễ có tính truyền thống, giữ gìn được những giá trị tốt đẹp, tính nghiêm cẩn, thiêng liêng của lễ hội, đồng thời tránh được những biểu hiện của mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, lừa đảo. Bên cạnh đó, phải làm sao cho các hoạt động vui chơi, diễn xướng dân gian đáp ứng được nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân, vừa phải là những sinh hoạt văn hóa phong phú, hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu công chúng, vừa đảm bảo tính giáo dục, nhân văn và lành mạnh.
Thứ hai, quản lý phương diện tài chính của lễ hội. Lĩnh vực quản lý này gồm hai hoạt động chính. Hoạt động tiếp nhận các khoản thu từ lễ hội và huy động các nguồn vốn xã hội hóa: tiền công đức, tiền dầu nhang, 12 nguồn thu từ các loại dịch vụ, các nguồn vốn xã hội hóa khác. Hoạt động quản lý việc sử dụng, chi tiêu, phân bổ các nguồn vốn thu được sao cho hiệu quả và không xảy ra các tiêu cực, lãng phí, không minh bạch.
Thứ ba, quản lý phương diện an ninh - xã hội của lễ hội: Công tác này hướng đến việc đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, trông coi phương tiện đi lại. Bên cạnh đó, lễ hội cũng là nơi dễ dẫn đến các vấn đề về vệ sinh, an toàn thực phẩm, rất cần tới công tác kiểm tra, giám sát vệ sinh và y tế.