phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo; luận văn gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội gắn với phát triển du lịch và tổng quan lễ hội trên địa bàn huyện Tƣơng Dƣơng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý lễ hội trên địa bàn huyện Tƣơng Dƣơng, tỉnh Nghệ An gắn với phát triển du lịch Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội trên địa bàn huyện Tƣơng Dƣơng, tỉnh Nghệ An gắn với phát triển du lịch 11 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI GẮN VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội gắn với phát triển du lịch 1.
Cơ sở lý luận về quản lý lễ hội 1. Khái niệm Lễ hội Lễ hội là một bộ phận của kho tàng di sản văn hoá, là nét đẹp đƣợc hình thành từ các hoạt động đời sống văn hoá tinh thần của ngƣời Việt xa xƣa, lễ hội là nhu cầu sinh hoạt văn hoá không thể thiếu của nhân dân, thể hiện mong muốn khát vọng về giao lƣu trong hoạt hoạt văn hoá và nhu cầu văn hoá tâm linh. Có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về lễ hội. Từ điển lễ hội Việt Nam giải Thích: Lễ là hoạt động đạt tới trình độ nghi lễ, hội là các hoạt động nghi lễ đạt tới trình độ cao hơn, trong đó có các hoạt động văn hoá truyền thống [47].
Từ điển bách Khoa Việt Nam giải thích 2 từ lễ và hội nhƣ sau: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhắm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hóa tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, sự hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng d ng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng [25, tr. Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, giải thích từ “Lễ Hội” là“cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hoá truyền thông” [27 tr1251] phản ảnh những sự kiện đặc biệt mang tính chất 12 cộng đồng thể hiện sự tôn kính của nhân dân đối thần linh hay những ngƣời có công với quê hƣơng đất nƣớc, kết hợp với các hoạt động vui chơi giải trí sau những ngày làm việc vất vả. Cùng quan điểm này, tác giả Trần Ngọc Thêm và công sự cho rằng: Lễ hội là sự tổng hợp cái linh thiêng và cái trần thế nhằm thể hiện biết ơn và bày tỏ nguyện vọng cùng sự cầu mong của mình đối với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên trong vũ trị, phân bổ theo không gian, có khuynh hướng thiên về tinh thần, mang đặc tính mở (lôi cuốn mọi người tìm đến), mục đích nhằm duy trì quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong làng xã [49, tr.
Bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: Hệ thống lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngƣỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật đƣợc sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng, đƣợc chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc. Thông qua các nghi lễ này con ngƣời đƣợc giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (nhiên thần và nhân thần), do chính họ tƣởng tƣợng ra và mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tƣơng lai cuộc sống tốt đẹp của mình. Hệ thống hội bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xƣớng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rƣớc và ca múa dân gian… Chúng đều mang tính vui nhộn, hài hƣớc, song đôi khi chƣa thể tách ra khỏi việc thờ cúng[28]. Nhƣ vậy, có thể thấy lễ hội là một loại hình văn hoá mang đến cho cộng đồng sự thoả mãn về mặt tâm linh cũng nhƣ tạo ra sự hy vọng về nhu cầu sinh tồn của mỗi cá nhân và cộng đồng.
Trên hết, lễ hội phản ánh những nét đặc trƣng về lịch sử văn hoá của địa phƣơng và từng quốc gia. Do đó nó là một trong những di sản văn hoá phi vật thể đƣợc UNESCO công nhận, đồng thời ban hành nhiều công ƣớc quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị trong đời sống đƣơng đại. 13 Qua quá trình nghiên cứu về lễ hội, luận văn sử dụng khái niệm lễ hội sau: Lễ hội là một nét sinh hoạt văn hoá mang tính cộng đồng, diễn ra trong những chu kỳ không gian và thời gian nhất định. Nó thể hiện sự tôn kính của con người đối với thần linh và thể hiện ước vọng, mong muốn chính đáng của con người về một cuộc sống vui tươi, hạnh phúc, đủ đầy.
Hoạt động lễ hội Dƣới góc độ triết học, hoạt động đƣợc hiểu là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể là con ngƣời, khác thể là hiện thực khách quan. Ở góc độ này, hoạt động đƣợc xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hoá lẫn nhau giữa hai cực chủ thể và khách thể. Dƣới góc độ tâm lý học, xuất từ quan điểm cho rằng cuộc sống của con ngƣời là những hoạt động giao tiếp đan xen nhau, nên hoạt động đƣợc hiểu là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời trong thế giới.
Từ điển tiếng Việt giải thích từ “hoạt động” là thực hiện một chức năng năng đó, tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh cực nhất định [37]. Trong lĩnh vực văn hoá, hoạt động lễ hội thể hiện những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm khơi dậy nét văn hoá đặc thù của dân tộc đã đƣợc lƣu truyền, kế thừa qua nhiều thế kỷ. Đó là buổi diễn ra các công việc nghi lễ tôn kính, trang nghiêm, trọng thể, tƣởng nhớ tới thần linh theo nghi thức nhất định mang màu sắc tâm linh cùng với các trò diễn giải trí, trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc với các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử và đƣợc lƣu giữ, phát huy theo năm tháng. Hoạt động lễ lội mang tính chất cộng đồng sâu sắc thể hiện một phần đời sống văn hoá của cộng đồng nên có đông đảo ngƣời dân tham gia.
Giai đoạn trƣớc đây, tuỳ theo cách gọi của từng vùng miền, và đặc trƣng của hoạt 14 động lễ hội thƣờng đƣợc tổ chức trong không gian ở các làng quê, do dân làng địa phƣơng thực hiện để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tâm linh của cộng đồng dân làng nên đƣợc gọi với nhiều tên khác nhau nhƣ: Đảm xứ, tiệc làng, làng mở hội, hội hè đình đám…. Đến nay, hoạt động lễ hội vẫn mang tính chất cộng đồng có đông đảo ngƣời dân tham gia nhƣng lễ hội diễn ra quanh năm ở khắp các vùng miền của tổ quốc, phong phú và đa dạng chứ không chỉ riêng ở các làng quê, với số lƣợng, quy mô, tầm vóc, phạm vi rộng lớn, có nhiều các sự kiện văn hoá, các hình thức mua bán trao đổi tấp nập, các hoạt động nghệ thuật phối hợp nhằm đáp ứng các nhiệm vụ chính trị, kinh tê, văn hoá, đồng thời cũng là cơ hội để quảng bá hình ảnh, đất nƣớc con ngƣời Việt Nam với bạn bè quốc tế. Hoạt động lễ hội bao gồm nhiều hoạt động tổng hợp trong một không gian mở, gồm: Hoạt động nghi lễ: là hệ thống các hành vi đƣợc đặc cách hóa, thẩm mỹ hóa đến cao độ, trở thành một thứ ngôn ngữ tƣợng trƣng nhằm truyền tải những ý niệm của cộng đồng trong giao tiếp với thần linh. Nghi lễ đƣợc quy tắc hóa và hình thức hóa một cách chặt chẽ nên hoạt động này không dành cho tất cả mọi ngƣời mà có tính đại diện, đại biểu.
Hoạt động nghi lễ có sự tham gia của những động tác, lời nói do cá nhân, nhóm hay tập thể thực hiện với sự phối hợp của âm thanh, đạo cụ diễn xƣớng, vũ đạo, ma thuật và đồ hiến tế. Với tƣ cách là tổ hợp của những phƣơng tiện mang ý nghĩa, nó biểu hiện thái độ quy phục, tôn vinh và dâng hiến đối với thần linh và kèm ngay đó là nguyện vọng xin thần linh ban phát những điều mong muốn cho hạnh phúc đời thƣờng. Sự cầu xin đóng vai trò mục tiêu của hoạt động nghi lễ và đã trở thành phong tục và ít thay đổi trong lễ hội. Hoạt động bán nghi lễ: là những hoạt động thể hiện theo một cách khác với nghi lễ chính thức, thể hiện sự mong muốn của cộng đồng mở hội.
Có rất nhiều hoạt động loại này mà dân gian gọi là trò. Mỗi trò đều biểu hiện ra dƣới 15 dạng vui chơi hay diễn xƣớng, thi tài hay thi sức, có thể từ nguồn gốc sâu xa trong truyền thống văn hóa tín ngƣỡng của cƣ dân nông nghiệp. Hoạt động vui chơi thuần tuý: đây đƣợc xem là phần “Hội”, cũng đƣợc xem nhƣ là hoạt động phục vụ nhu cầu vui chơi, giao lƣu của ngƣời dân trong lễ hội. Tuy không liên quan tới nhu cầu tâm linh, nhƣng lại tạo ra sự phấn khích, thậm trí là mục tiêu cá nhân hay nhóm trẩy hội.
Những trò giải trí thuần túy thƣờng có sẵn trong kho tàng văn hóa của cộng đồng nhƣ: kéo co, chọi gà, bịt mắt bắt dê…Việc tổ chức những trò này có thể do phân công của cộng đồng, do ngẫu hứng của các cá nhân hay nhóm. Trò chơi giải trí thuần túy góp phần tạo một cảm giác toàn cảnh về sự đầy đặn, sầm uất, dƣ thừa. Nhƣ thế, nó cũng góp phần nói lên niềm ao ƣớc đời thƣờng nhƣng sâu xa của con ngƣời về hạnh phúc bình dị trong cuộc sống. Hoạt động dịch vụ: đƣợc hiểu nhƣ hoạt động mua bán trong dịp lễ hội.
Giai đoạn trƣớc đây thƣờng là đồng quà tấm bánh, sản vật đồng quê, trò chơi có thƣởng. Ngày nay, ở nhiều lễ hội hoạt động dịch vụ lại đƣợc coi nhƣ mục tiêu khi phát triển thành lễ hội - du lịch. Hoạt động này ngày càng trở nên đa dạng, đáp ứng đủ nhu cầu của du khách, thậm chí còn làm cho không gian của lễ hội biến đổi về quy mô, màu sắc.