Chương 1: Giới thiệu vấn đề Chương 2: Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý kinh phí ngân sách nhà nước cho hoạt động đối ngoại Chương 3 Khung phân tích Chương 4: Phân tích thực trạng quản lý kinh phí ngân sách nhà nước cho hoạt động đối ngoại tại Kiên Giang Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ KINH PHÍ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI 2. Các khái niệm liên quan 2.1 Ngân sách nhà nước Cụm từ “ngân sách” có nguồn gốc xuất xứ từ các nước phương Tây (Tây Âu và Bắc Mỹ) trong thời kỳ công nghiệp hóa vào thế kỷ 18 và 19. Thuật ngữ “ngân sách: bouge, bougette có nguồn gốc từ một tiếng Pháp cổ, sau đó được đọc là “budget” trong tiếng Anh, với nghĩa là chiếc túi của nhà vua chứa những khoản tiền để dùng cho những khoản chi tiêu công cộng. Lúc bấy giờ, những khoản chi tiêu cho mục đích công cộng, phục vụ dân sinh và các khoản chi tiêu phục vụ hoàng gia được sử dụng chung nguồn ngân sách này và không có sự phân biệt rõ ràng.
Từ khi Nhà nước ra đời, nền kinh tế hàng hóa phát triển, giai cấp tư sản đã yêu cầu cần phải có tách biệt rõ ràng các khoản chi tiêu phục vụ hoạt động của nhà nước và các khoản chi tiêu của cá nhân trong bộ máy nhà nước từ nguồn ngân sách chung. Từ đó thuật ngữ “Ngân sách nhà nước (NSNN)” được hình thành và sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Đầu thế kỷ 20, cụm từ “budget” được du nhập vào nước ta và được giới trí thức người Việt tây học đương thời dịch là “ngân sách” (viết theo lối chữ Nho của Triều đình nhà Nguyễn khi đó được hiểu là dự kiến thu chi quỹ bằng tiền. Cho đến nay, có rất nhiều quan niệm về NSNN do các cách tiếp cận khác nhau của nhiều tác giả.
Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định củamột chủ thể nào đó. Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là ngân sách Nhà nước. Theo quan điểm của các nước hiện nay, “ngân sách” là một tài liệu tài chính sử dụng để “dự toán” các khoản thu nhập và chi tiêu trong tương lai (A budget is a financial document used to project future income and expenses1 của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, nhà nước.
Trong đó: 1 Nguồn: https://www.uk/accountingsystem/glossary/budget) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 (i) Ngân sách cá nhân là một “kế hoạch” (dự toán) tài chính mà phân bổ thu nhập cá nhân trong tương lai đối với các chi phí, tiết kiệm và trả nợ. (ii) Ngân sách của các tổ chức doanh nghiệp là một biểu thức định lượng của một kế hoạch (dự toán) cho một thời gian xác định. Nó có thể bao gồm doanh số bán hàng theo kế hoạch và các khoản thu, số lượng tài nguyên, chi phí và chi phí, tài sản, công nợ và dòng tiền. Nó thể hiện các kế hoạch chiến lược của các đơn vị kinh doanh, các tổ chức, các hoạt động hoặc các sự kiện trong một thời kỳ nhất định.
(iii) Ngân sách Chính phủ (ngân sách nhà nước) là tài liệu Chính phủ trình bày “dự toán” các khoản thu và chi tiêu của Chính phủ cho một năm tài chính, thường được thông qua bởi cơ quan lập pháp. Ngân sách Chính phủ cũng được gọi là báo cáo tài chính hàng năm của đất nước. Tài liệu này ước tính các khoản thu của Chính phủ và chi tiêu chính phủ trong năm tài chính tiếp theo. Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của NN.
Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm XH, nguồn tài chính luôn vận động giữa một bên là NN, một bên là các chủ thể KT-XH. Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữa NN với các chủ thể khác, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của NN chuyển dịch của một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của NN và NN chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của NN. Quản lý ngân sách nhà nước Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc thống nhất, tập trung và dân chủ. Cụ thể: Trong cùng một cấp ngân sách thì có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách.
Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng, ngân sách cấp dưới chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của ngân sách cấp mình. Dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân sách cấp dưới, đồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được quy định tại khoản 16, điều 4, Luật ngân sách số 83/QH13 năm 2015 như sau: Nhà nước trung ương phân giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý ngân sách gồm thẩm quyền ban hành các chế độ, chính sách; phân cấp về nguồn thu và nhiệm vụ chi; trách nhiệm của các cấp trong chu trình ngân sách. Để thực hiện mục tiêu chung về chính sách phát triển, đảm bảo công bằng và phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương, ngân sách trung ương bổ sung cho ngân sách địa phương trong những trường hợp có sự mất cân đối vùng miền hay thực hiện mục tiêu của trung ương.
Khoản bổ sung này là nguồn thu của ngân sách cấp dưới. Trường hợp cơ quan cấp trên uỷ quyền cho cơ quan cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó. Ngoài việc bổ sung nguồn thu và uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của ngân sách cấp khác trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của chính phủ. Để việc phân cấp quản lý NSNN đạt hiệu quả, cần tuân thủ các nguyên tắc: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh của quốc gia và năng lực quản lý của các cấp; đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và tính độc lập của ngân sách địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất, đồng thời thực hiện nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN.
Như khái niệm về ngân sách được trình bày trong luật Ngân sách nhà nước 2015, hình thức biểu hiện của NSNN xoay quanh một kế hoạch thu - chi của chính phủ được Quốc hội phê chuẩn cho từng năm ngân sách và nội dung kinh tế của NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh giữa nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Hoạt động đối ngoại: Ngoại giao công trong thế kỷ XX được coi là một công cụ của nhà nước được các bộ ngoại giao và các cơ quan chính phủ khác sử dụng để thuyết phục các công dân nước ngoài nhằm gây ảnh hưởng đến chính phủ của họ. Ngày nay, ngoại giao công cộng có nghĩa là một công cụ được sử dụng bởi các địa phương, các hiệp hội các quốc gia và một số tổ chức phi chính phủ để hiểu các nền văn hoá, thái độ và hành vi; xây dựng và quản lý mối quan hệ; và ảnh hưởng đến tư tưởng và vận động các hành động để thúc đẩy lợi ích và giá trị của họ. Thuật ngữ "ngoại giao công" là một công việc đa dạng.
Nó đã xuất hiện khoảng từ ít nhất là giữa thế kỷ XIX, và đạt đến đỉnh cao sau chiến tranh thế giới thứ nhất như là một chỉ trích tự do về ngoại giao bí mật. Nó xuất hiện lại vào những năm 1960 như là một phương tiện giải thích tuyên truyền Chiến tranh lạnh, và có liên quan trong những năm 1980 với các hoạt động tuyên truyền của Reagan tại Châu Mỹ Latinh. Kể từ khi chuyển sang thế kỷ 21, việc sử dụng thuật ngữ này đã tăng lên theo cấp số nhân, và đó là những thuật ngữ gần đây nhất của thuật ngữ là chủ đề của nghiên cứu này. Sự nổi lên của ngoại giao công như là một thuật ngữ chủ yếu của học thuật trong những thập niên cuối của thế kỷ XX đã bị thay thế bởi ý tưởng rằng trong thế kỷ 21 đầu tiên là một ngoại giao công mới.
Là một sự thay đổi mô hình chính trong truyền thông chính trị quốc tế, về sự nhất trí mạnh mẽ. Theo các nhà khoa học và các nhà quan sát trong lĩnh vực truyền thông của chính phủ, toàn cầu hóa và một môi trường truyền thông mới đã thách thức các cấu trúc của các bộ trưởng bộ ngoại giao truyền thống và các bộ ngoại giao không còn có thể tuyên bố là các đơn vị độc chiếm hoặc chiếm ưu thế trong việc truyền đạt chính sách đối ngoại. Đường biên cho các luồng thông tin có tính mềm dẽo hơn, và nhiều bên hơn tham gia vào các vấn đề quốc tế và chính trị quốc tế. Ngoại giao ngày càng có trách nhiệm và bị ảnh hưởng bởi các cuộc tranh luận công khai và các cuộc vận động hành lang nhóm sở thích.
Điều này đòi hỏi những cách thức mới để truyền đạt chính sách đối ngoại cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 một loạt các tổ chức quốc tế phi chính phủ và những cách thức mới để đánh giá ảnh hưởng của những nỗ lực truyền thông này. Hoạt động đối ngoại, trong tiếng Anh có thuật ngữ Foreign Affairs: activities of a nation in its relationships with other nations; international relation (hoạt động đối ngoại: những hoạt động của một quốc gia trong mối quan hệ của nó với các quốc gia khác; quan hệ quốc tế).