phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá và quản lí kiểm tra đánh giá trong dạy học nói chung và trong bồi dưỡng nói riêng. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm tra đánh giá và quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện ở thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động bồi dưỡng của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện ở thành phố Hải Phòng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX trên thế giới đã có một cuộc cách mạng về KTĐG với những thay đổi căn bản về triết lí, quan điểm, phương pháp và các hoạt động cụ thể. Những thay đổi trên thể hiện quan điểm mới: coi người học (learner) và quá trình học tập (learning) là trung tâm của toàn bộ hoạt động GD. Sự cải tiến các chương trình kiểm tra đánh giá xuất hiện từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước.
Ở giai đoạn này, kiểm tra đánh giá đã có các tiêu chí, công cụ, chương trình có sự hỗ trợ của kỹ thuật. Quản lý KTĐG rất được quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu: Mô hình đánh giá theo mục tiêu (Goal – based Model) hay mô hình E.Taylor; mô hình CIPP do L.Sutufflebeam đề xuất năm 1966; mô hình đánh giá sự khác biệt (Discrepancy Evaluation Model) do Malcolm Provus (1971). Nhưng các nghiên cứu này ngoài các điểm mạnh: chỉ ra được những quy trình đánh giá theo mục tiêu, tạo điều kiện để xác lập mục tiêu phù hợp với nhu cầu phát triển, tăng cường lực lượng đánh giá; qua việc đánh giá các điều kiện thực thi, qus trình thực thi, các nhà quản lý kịp thời điều chỉnh những điểm yếu và giúp hoạt động giáo dục đạt chất lượng và hiệu quả hơn.
thì vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết là: hạn chế sự phát triển tự do năng lực sáng tạo của người học; không bám sát mục tiêu chương trình; chỉ quan tâm đến hiệu ứng thật của chương trình và kết quả đầu ra. Ở Việt Nam Từ những năm đầu của thập niên 90, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu và những bài báo cáo của các giáo sư, tiến sĩ, những chuyên gia đầu ngành về đánh giá đề cập đến vấn đề đổi mới và hoàn thiện cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh và sinh viên ở tất cả các bậc học từ phổ thông đến đại học và thậm chí là sau đại học. Đó là: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Nguyễn Đức Chính, Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2008. * Nguyễn Đức Chính – Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giá theo mục tiêu, tập bài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2005.
* Nguyễn Công Khanh, Đánh giá và đo lường trong giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004. * Trần Khánh Đức, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tậpbài giảng lưu hành nội bộ - khoa Sư phạm, Hà Nội 2006. * Đặng Bá Lãm, Kiểm tra – đánh giá trong dạy - học đại học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2003. * Lâm Quan Thiệp, Đo lường đánh giá trong giáo dục, 2003.
* Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Nxb Khoa học xã hội, 2005. Các nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, mỗi nghiên cứu có những điểm mạnh, điểm yếu, có nhiệm vụ nhằm vào những mục đích đánh giá khác nhau, tuy nhiên đều có mục đích chung là: đánh giá sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn, đánh giá mực độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục. Để nâng cao chất lượng hoạt động bồi dưỡng của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện ở thành phố Hải Phòng, đã có một số đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý kiểm tra đánh giá trong hoạt động bồi dưỡng.
Do vậy, đề tài: “Quản lý kiểm tra đánh giá trong hoạt động bồi dưỡng của trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện ở thành phố Hải phòng” là vấn đề mang tính cấp thiết trong công tác bồi dưỡng lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi Quốc gia, mọi thời đại. Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại. Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Chính vì vậy người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động.
Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua quản lý. Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quản độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [11, tr. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích của hoạt động.
Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm: Theo F.Taylor (1856 – 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [10, tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Henri Fayol (1841 – 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [10, tr. Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng “Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của các nhân hướng vào mục tiêu tổ chức – Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất”[11, tr. Theo Mary Parker Follett (Mỹ): “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”, “…Trong quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm …”[11, tr.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau: Từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung” [28]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[11] Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu trong một tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngược lại nếu chỉ quan tâm đến “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Do vậy, người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” luôn phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn luôn ở trạng thái cân bằng động.
Như vậy, từ cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung: Quản lý là quá trình hoạt động lao động có mục đích để điều khiển lao động. Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Liên quan tới môi trường xác định. Từ các dấu hiệu chung đó, có thể khái quát như sau: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi.
Kiểm tra đánh giá Vị trí, vai trò của kiểm tra đánh giá là không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình. Đánh giá ở mỗi thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.