chương 1 cho thấy sự phân bố của nhà máy này không đồng đều, chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ (chiếm tỷ lệ 43,72% và 28,57%, năm 2009). Sự phân bố trên cho thấy sức ép về môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng do hoạt động sản xuất thép tại hai vùng nói trên lớn hơn các vùng khác trên toàn quốc. Công tác bảo vệ môi trường từ các nhà máy sản xuất thép gần đây đã được quan tâm, tuy nhiên mức độ đầu tư xử lý các chất thải của các nhà máy còn khác nhau. Một số doanh nghiệp lớn đã quan tâm đến công tác xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường bằng cách đầu tư các thiết bị hiện đại như hệ thống xử lý khí thải, lọc bụi: công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên, Công ty thép Miền Nam, Hòa Phát, Thép Việt, các doanh nghiệp FDI (ViAuSteel, SSE, VPS, NatSteelVina, Tây Đô, SunSteel),.
Tuy nhiên vẫn còn một số cơ sở sản xuất cũ, tư nhân, vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, chưa đầu tư cho việc xử lý khí thải do đó đã gây ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Điển hình như một số lò sản xuất thép tư nhân nhỏ ở làng thép Đa Hội (huyện Từ Sơn – Bắc Ninh) hay nhà máy thép ở Quán Toan (Hải Phòng), nhà máy luyện phôi thép vuông Thái Hưng (Hải Dương). Nguồn gây ô nhiễm không khí của hoạt động sản xuất thép từ các khu vực nhà sản xuất như nhà xưởng, lò than, nhà tạo hình, nhà tập kết sản phẩm, khí thải chủ yếu: bụi, gỉ sắt chứa các oxit kim loại (FeO, MnO, Al2O3, SiO2, CaO, MgO); khí thải chứa CO2, SOx. Tại các khu vực nhà kho, bãi chứa, kho than, khu vực vận chuyển, khí thải chủ yếu: NOx, VOC, hơi xăng (Báo cáo môi trường Quốc Gia 2013 – Môi trường không khí).
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Dự báo các chất phát thải vào môi trường theo sản lượng quy hoạch phát triển ngành thép đến 2025(Đơn vị: tấn/năm) Các chất 2010 2015 2020 2025 phát thải SO2 3.912 Bụi tổng hợp 573 1.632 Nguồn: Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách công nghiệp, Bộ Công thương (2010) c)Ngành sản xuất vật liệu xây dựng Sự phân bố các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng tập trung chủ yếu tại Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc, do đó, chất lượng môi trường không khí tại các khu vực này bị ảnh hưởng nhiều hơn so với các khu vực khác. Ô nhiễm không khí do hoạt động sản xuất vật liệu xây phát sinh từ quá trình khai thác, sản xuất và vận chuyển nguyên vật liệu. Quá trình khai thác và chế biến thường phát sinh bụi và một số khí: CO, NOx, SO2, H2S,…; quá trình vận chuyển nguyên vật liệu chủ yếu phát sinh bụi.
Ngành công nghiệp sản xuất xi măng là ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên ngành công nghiệp này lại được coi là một trong những ngành gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí lớn nhất và đặc trưng nhất. Các nhà máy sản xuất xi măng chủ yếu được phân bố tại vùng Đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ, đạt 39% tổng sản lượng sản xuất xi măng trên toàn quốc. Hiện nay, tại Việt Nam công nghệ sản xuất xi măng chủ yếu theo phương pháp khô, lò quay.
Tuy nhiên, vẫn còn một số nơi duy trì nhà máy xi măng lò đứng. Theo đánh giá của các chuyên gia, sản xuất xi măng bằng công nghệ lò quay ít gây ảnh hưởng đến môi trường hơn lò đứng. Khí thải từ lò nung xi măng có hàm lượng bụi, NO2, CO2, F rất cao và có khả năng gây ô nhiễm nếu không được kiểm soát tốt. Theo thống kê, để sản xuất ra 1 tấn xi măng sẽ tiêu hao 100kw giờ điện và phát thải khoảng 770kg CO2 vào môi trường không khí sau những công đoạn nung nguyên liệu.
Bụi xi măng phát sinh ở hầu hết các công đoạn trong quá trình sản xuất như: Bụi sinh ra từ các quá trình nghiền, đập, sàng, phân ly và vận chuyển. Bụi cũng được phát sinh từ khu vực bốc dỡ, tiếp nhận phụ gia, thạch cao, xuất hàng. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Dự báo tải lượng các chất phát thải vào môi trường từ sản xuất xi măng(Đơn vị: triệu tấn/năm) Các chất phát thải 2011 2015 2020 Bụi 0,65 1,075 1,34 SO2 0,086 0,14 0,18 Nguồn: Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng (2013) Các ngành sản xuất vật liệu xây dựng khác cũng góp phần gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí tại các khu vực diễn ra hoạt động sản xuất.
Hoạt động khai thác và chế biến đá gây ô nhiễm bụi từ quá trình nổ mìn phá đá, đập nghiền và bốc xúc đá. Ngoài bụi, ngành khai thác còn phát sinh ra các chất khí: CO, NOx, SO2, H2S,… do nổ mìn, nghiền sử dụng dầu diezen. Hoạt động sản xuất gốm sứ, gạch nung, gạch ốp lát, do sử dụng than làm nhiên liệu, khí thải chủ yếu là bụi và SO2,. Ngoài ra còn có các khu vực như mài, vát cạnh gạch cũng có khả năng phát thải bụi.
Bụi còn được phát sinh từ các công đoạn vận chuyển, kho chứa và gia công (Báo cáo môi trường Quốc Gia 2013 – Môi trường không khí). Dự báo tải lượng các chất phát thải vào môi trường từ sản xuất vật liệu xây dựng(Đơn vị: triệu tấn/năm) Các chất phát thải 2011 2015 2020 Bụi 2,82 3,43 4,1 SO2 0,73 0,87 1,03 CO2 280,7 342,8 446,5 Nguồn: Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng (2013) d) Ngành nhiệt điện Các nhà máy nhiệt điện thường tập trung chủ yếu tại khu vực phía Bắc, tại các địa phương: Quảng Ninh, Ninh Bình, Hải Dương,. (bao gồm các nhà máy đốt than: nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình, Uông Bí, Phả Lại, Na Dương, Cao Ngạn) và khu vực phía Nam tại các tỉnh Bà rịa – Vũng tàu, Cần Thơ, tp. Hồ Chí Minh (công ty nhiệt điện Thủ Đức, Cần Thơ, trung tâm điện lực Phú Mỹ).
Các nhà máy nhiệt điện đốt than cũ như Uông Bí, Ninh Bình, Phả Lại 1 chủ yếu là nhiệt điện ngưng hơi, sử dụng lò hơi tuần hoàn tự nhiên, công suất thấp, không đáp ứng yêu cầu về môi trường. Với sự phân bố các nhà máy nhiệt điện chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn cùng với công nghệ lạc hậu đã gây áp lực không nhỏ đến chất lượng không khí của các khu vực này (Báo cáo môi trường Quốc Gia 2013 – Môi trường không khí). 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lượng khí thải từ các nhà máy Nhiệt điện trên toàn quốc năm 2009 Đơn vị: tấn/năm (CO2: nghìn tấn/năm)) Loại nguồn điện Bụi SO2 NOx CO2 Nhiệt điện than 1.501 Nhiệt điện dầu 6.077 Nhiệt điện khi – Tubin khí hỗn hợp 0 0 15.105 Nguồn: Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách công nghiệp, Bộ Công thương (2010) Tác động môi trường chính do các nhà máy nhiệt điện gây ra là các chất ô nhiễm không khí (CO2, SO2, NO2, bụi, CO, HC).
Lượng phát thải các chất gây ô nhiễm này phụ thuộc vào các dạng nhiên liệu và công nghệ sử dụng. Tính toán tải lượng các chất ô nhiễm trong khói thải nhà máy nhiệt điện theo các dạng nhiên liệu trên toàn quốc Đơn vị: tấn/năm (CO2: nghìn tấn/năm) Năm 2011 2012 2013 2014 2015 Than PM 2.288 Ghi chú: Phát thải được tính toán với điều kiện thực tế của các dự án .Các hệ số phát thải được áp dụng là các hệ số của IPCC và AP42 của Mỹ Nguồn: Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách công nghiệp, Bộ Công thương (2010) 2. Xử lý chất thải nguy hại Hiện nay việc xử lý CTNH đang được áp dụng phổ biến tại Việt Nam, bao gồm lò đốt tĩnh hai cấp (trên 50%). Tuy nhiên, các công nghệ hiện có còn chưa hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy môi nhỏ.
Do đó, xét về khía cạnh môi trường, công nghệ xử lý CTNH vẫn gây ra những tác động nhất định đến môi trường không khí. Các chất khí tạo ra sau quá trình đốt: SO2, HCl, dioxin và furan. Đặc biệt, đối với việc đốt chất thải y tế nguy ngại còn làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm không khí khi được thiêu đốt trong điều 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiện không lý tưởng. Việc đốt các chất thải y tế được đựng trong túi ni lông PVC, cùng với các loại dược phẩm nhất định, có thể tạo ra khí axit thường là HCl và SO2.
Trong quá trình đốt các dẫn xuất halogen (F, Cl, …Br…I) ở nhiệt độ thấp thường tạo ra axit (HCl, HF, HI). Điều này dẫn tới nguy cơ tạo thành Dioxin, Furan và các kim loại nặng như thủy ngân có thể phát thải theo khí lò đốt. Một số kim loại nặng và hợp chất chứa kim loại (như thủy ngân, chì) cũng có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi trường. Mặc dù, ô nhiễm tro bụi thường là lý do khiếu nại của cộng đồng vì dễ nhận biết bằng mắt thường, nhưng tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm hơn nhiều chính là các hợp chất (như kim loại nặng, dioxin và furan) bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào không khí (Báo cáo môi trường Quốc Gia 2013 – Môi trường không khí).
Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người, hệ sinh thái và biến đổi khí hậu 2. Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người Các chất gây ô nhiễm không khí có thể là thể khí (SO2, NOx, Pb,…), có thể là thể rắn (bụi), tiếng ồn, phóng xạ… đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đời sống sinh vật và gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế. a) Tác hại của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ con người, đặc biệt là đối với đường hô hấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khoẻ con người bị suy giảm, quá trình lão hoá trong cơ thể bị thúc đẩy, chức năng của phổi bị suy giảm; gây bệnh hen suyễn, viêm phế quản; suy nhược thần kinh, tim mạch và làm giảm tuổi thọ con người.
Nguy hiểm nhất là có thể gây ra bệnh ung thư phổi. Các nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất với sự ô nhiễm không khí là những người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 15 tuổi, người đang mang bệnh, người thường xuyên phải làm việc ngoài trời… Mức độ ảnh hưởng đối với từng người tùy thuộc vào tình trạng sức khoẻ, nồng độ, loại chất ô nhiễm và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm.