Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ", chuyên ngành Quản lí giáo dục (Mã số: 62 14 01 14), do nghiên cứu sinh Nguyễn Trần Vĩnh Linh thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đoàn Văn Điều và TS. Võ Văn Nam.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam, nơi tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 78,3% vào quý 4 năm 2017 (trong đó trình độ đại học trở lên chiếm 9,6%; cao đẳng 2,9%; trung cấp chuyên nghiệp 3,9%; dạy nghề từ 3 tháng trở lên chiếm 5,4%). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15–24 tuổi năm 2016 là 7,34% (khu vực thành thị là 11,30%), và quý 3 năm 2017 có 237.000 người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp. Một nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện trạng này là hoạt động tư vấn hướng nghiệp (TVHN) trong trường phổ thông chưa đạt hiệu quả, còn mang tính phong trào, thời điểm và chưa tạo dựng niềm tin cho học sinh khi lựa chọn ngành nghề.

Tại 5 tỉnh miền Đông Nam Bộ, với quy mô 164 trường trung học phổ thông (THPT) và 68.596 học sinh lớp 12 (số liệu năm 2017), nhu cầu TVHN là rất lớn. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về quản lý hoạt động TVHN ở trường THPT chủ yếu tiếp cận theo các yếu tố thành phần như mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp và điều kiện cơ sở vật chất, mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống theo 4 chức năng quản lý cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động TVHN trong các trường THPT nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TVHN cho học sinh THPT ở miền Đông Nam Bộ.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động TVHN trong các trường THPT.
    2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ.
    3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu hoạt động TVHN và quản lý hoạt động TVHN được dựa trên nền tảng lý thuyết nào?
    2. Thực trạng hoạt động TVHN và quản lý hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ hiện nay như thế nào?
    3. Những yếu tố cơ bản/chính nào ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ?
    4. Vì sao kết quả quản lý hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ còn yếu?
    5. Những biện pháp quản lý hoạt động TVHN nào cần thực hiện để nâng cao chất lượng hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ?
  • Giả thuyết khoa học: Hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ đã đạt được một số kết quả khả quan, tuy nhiên vẫn tồn tại hạn chế như chưa xác định được nhu cầu TVHN của học sinh, năng lực TVHN của đội ngũ tư vấn còn yếu. Nguyên nhân cơ bản là do thực hiện quản lý hoạt động TVHN còn yếu. Nếu áp dụng các biện pháp quản lý theo chức năng quản lý và phù hợp với những điểm đặc thù của hoạt động TVHN thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động TVHN cho học sinh THPT tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động TVHN cho học sinh THPT.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động TVHN trong các trường THPT ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ (tập trung vào quản lý của Hiệu trưởng trong mối tương tác phân cấp quản lý).
  • Phạm vi địa bàn: 20 trường THPT công lập thuộc 03 tỉnh miền Đông Nam Bộ:
    • Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (06 trường): THPT Châu Thành, THPT Nguyễn Trãi, THPT Nguyễn Văn Cừ, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, THPT Ngô Quyền, THPT Phú Mỹ.
    • Tỉnh Bình Dương (04 trường): THPT Võ Minh Đức, THPT Bình An, THPT Bình Phú, THPT Phan Bội Châu.
    • Tỉnh Đồng Nai (10 trường): THPT Thanh Bình, THPT Ngọc Lâm, THPT Chu Văn An, THPT Xuân Lộc, THPT Đắc Lua, THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT Nhơn Trạch, THPT Phước Thiền, THPT Tôn Đức Thắng, THPT Vĩnh Cửu.
  • Phạm vi thời gian:
    • Khảo sát thực trạng: Từ tháng 09/2016 đến tháng 04/2017.
    • Thực nghiệm sư phạm: Từ tháng 09/2017 đến tháng 02/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Lịch sử nghiên cứu tư vấn và hướng nghiệp bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX với các công trình của Kettell (1880) về trắc nghiệm tâm lý trong tuyển chọn nghề, Galton (1883, 1895) sử dụng trắc nghiệm chẩn đoán nhân cách và cùng Binet thành lập Sở tư vấn nghề nghiệp đầu tiên tại Pháp. Frank Parsons (1909) với công trình Choosing a Vocation được xem là người đặt nền móng với mô hình 3 bước (hiểu bản thân, hiểu yêu cầu nghề, kết hợp đặc điểm bản thân với nghề nghiệp). John Holland (1960, 1986) phát triển lý thuyết về sự tương thích giữa kiểu nhân cách và môi trường nghề nghiệp, tạo lập thang đo Self-Directed Search (SDS). Keller và Viteles (1937) xuất bản tác phẩm Vocational guidance throughout the world.

Các nghiên cứu về tham vấn nghề trong trường học được tiếp nối bởi Lee & Ekstrom (1987), Schmidt (1996), Roger (1998), Zunker (2002), Dick & Rallis (1991), Gati & Saka (2001), Carey & Harrington (2010), Lapan (2012), Hatch (2014), Carey & Martin (2015), Yaqoob & Samad (2017). Về khía cạnh quản lý hoạt động TVHN, Hutchinson & Bottorff (1986) phân tích sự phối hợp giữa trung tâm giáo dục và trường học; Kim Witko và cộng sự (2005) khảo sát 2.360 học sinh tại 52 trường THPT ở Alberta (Canada) chỉ ra 89% học sinh lớp 12 có nhu cầu TVHN nhưng gặp rào cản thông tin; Gao (2008) nghiên cứu TVHN trong lớp học; Andronic & Andronicb (2011) chỉ ra hạn chế quản lý TVHN tại các trường học ở Brasov. Văn bản cũng tổng kết mô hình tổ chức TVHN tại Áo (luật 1998–1999, thời lượng 32 giờ/năm, viện WIFI, BIF, trung tâm BIZ), Hoa Kỳ (chương trình Planning of life với mô hình C'7: Clarity, Commitment, Comprehensive, Collaboration, Coherence, Coordination, Competency), Pháp (Bộ luật TVHN và đào tạo nghề suốt đời 2009), Malaysia (bộ phận tư vấn thành lập từ thập niên 1960), New Zealand (YMCA), Singapore (hệ thống phần mềm 1989–1993, cổng thông tin ecareers.sg năm 2009) và Trung Quốc (thập niên 1980).

Các hướng nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, nghiên cứu về TVHN phát triển từ thập niên 1980 với các đề tài của Đặng Danh Ánh, Phạm Đức Quang, Phạm Ngọc Anh, Đỗ Thị Hòa, Nguyễn Viết Sự; tài liệu của Phạm Huy Thụ, Phạm Tất Dong, Nguyễn Thế Trường. Giai đoạn 1996–2005 có các nghiên cứu của Nguyễn Như Ất, Hoàng Kiện, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Văn Hộ, Lê Đức Phúc, Nguyễn Văn Lê.

Giai đoạn sau năm 2005 có các nghiên cứu chuyên sâu:

  • Đặng Danh Ánh (2007, 2009, 2010) phân định TVHN, tư vấn nghề và quy trình tư vấn nghề 7 bước.
  • Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007, 2009, 2011, 2015) nghiên cứu mô hình tổ tư vấn nghề trường THPT miền núi Đông Bắc, các yêu cầu năng lực của giáo viên hướng nghiệp (chuyên môn, dạy học, tư vấn).
  • Lê Thị Thanh Hương (2010) tổng hợp lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng TVHN tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh.
  • Hoàng Văn Bình (2010), Nguyễn Thị Trường Hân (2011), Phạm Văn Sơn (2011, 2012) xây dựng bản mô tả nghề trong TVHN.
  • Luận án tiến sĩ của Phạm Ngọc Linh (2013) nghiên cứu nội dung tâm lý của TVHN; Trương Thị Hoa (2014) nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp qua tham vấn nghề; Phạm Đặng Khoa (2016) nghiên cứu quản lý giáo dục hướng nghiệp theo định hướng phát triển nhân lực TP. Hồ Chí Minh.
  • Các tác giả Đỗ Thị Bích Loan (2015), Nguyễn Thị Thu Anh (2016), Lê Duy Hùng (2018), Trần Phú Hào (2007), Nguyễn Quang Nhơn (2016), cùng các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Trang (2014), Nguyễn Ngọc Thảo (2016), Lê Thị Thu Trà (2016), Đặng Thị Bích Nga (2018), Nguyễn Quốc Tuấn (2014).
  • Tài liệu tập huấn của Bộ GD&ĐT phối hợp tổ chức VVOB (Vũ Đình Chuẩn, Lê Trần Tuấn, Trần Thị Thu, Nguyễn Thị Châu, Hồ Phụng Hoàng Phoenix, 2015) xác định quy trình TVHN 3 bước.

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các công trình trong nước tiếp cận TVHN dưới góc độ tâm lý học hoặc quản lý theo các thành tố nội dung, hình thức, điều kiện tổ chức. Việc nghiên cứu quản lý hoạt động TVHN ở trường THPT theo hệ thống 4 chức năng quản lý giáo dục (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá) gắn với bối cảnh kinh tế - xã hội đặc thù của miền Đông Nam Bộ chưa được thực hiện một cách toàn diện. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng khung lý luận chức năng và đề xuất các biện pháp quản lý tương ứng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các lý thuyết và khái niệm cốt lõi:

  • Tư vấn (Counseling): Quá trình tương tác giữa chủ thể tư vấn (có chuyên môn, kỹ năng) và khách thể có nhu cầu nhằm hỗ trợ khách thể nhận thức và tự đưa ra quyết định giải quyết vấn đề.
  • Hướng nghiệp (Career guidance): Hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội giúp cá nhân lựa chọn, xác định vị trí nghề nghiệp phù hợp giữa năng lực, sở trường, nguyện vọng với nhu cầu nhân lực xã hội.
  • Tư vấn hướng nghiệp ở trường THPT: Hoạt động cung cấp thông tin, sử dụng các biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về nghề, nhu cầu xã hội và đặc điểm tâm lý cá nhân để đưa ra quyết định chọn nghề, chọn ngành, chọn trường phù hợp.
  • Quản lý hoạt động TVHN theo 4 chức năng:
    1. Lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, chương trình, kế hoạch thời gian và nguồn lực TVHN.
    2. Tổ chức: Thiết lập cơ cấu nhân sự, phân công trách nhiệm cho các lực lượng (Ban giám hiệu, GVCN, GVBM, CBĐTN).
    3. Chỉ đạo: Đôn đốc, hướng dẫn, tạo động lực và phối hợp các lực lượng thực hiện hoạt động TVHN theo nhu cầu học sinh.
    4. Kiểm tra, đánh giá: Giám sát tiến độ, đo lường kết quả nhận thức chọn nghề của học sinh và đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phối hợp các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:

  • Các cách tiếp cận: Tiếp cận chức năng quản lý, tiếp cận lý thuyết hoạt động, tiếp cận hệ thống - cấu trúc, và tiếp cận lịch sử - logic.
  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, công trình khoa học trong và ngoài nước.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát diện rộng với tổng số 2.863 khách thể tại 20 trường THPT thuộc 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ.
Nhóm khách thể khảo sát Số lượng (người) Nội dung khảo sát
Cán bộ quản lý (CBQL) 35 Thực trạng hoạt động TVHN và thực trạng quản lý hoạt động TVHN
Giáo viên (GVCN, GVBM, CBĐTN) 462 Thực trạng hoạt động TVHN và thực trạng quản lý hoạt động TVHN
Học sinh (HS lớp 12) 2.366 Nhận thức, nhu cầu, sự tự tin và kết quả hoạt động TVHN
Tổng cộng 2.863
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp 10 CBQL, 15 giáo viên và 44 học sinh (chia thành các nhóm 04 học sinh/nhóm).
  • Phương pháp chuyên gia: Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất với 30 CBQL và giáo viên cốt cán; trao đổi chuyên sâu với 02 phó hiệu trưởng và 04 tổ trưởng chuyên môn về việc xác định nhu cầu TVHN.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng tại trường THPT nhằm kiểm chứng hiệu quả của biện pháp chỉ đạo TVHN theo nhu cầu học sinh.
  • Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu điều tra và thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 20 (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định sai biệt).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề TVHN và quản lý TVHN trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả làm rõ hệ thống khái niệm công cụ: tư vấn, hướng nghiệp, TVHN, hoạt động TVHN ở trường THPT, quản lý hoạt động TVHN.

Nội dung lý luận xác định hoạt động TVHN trong trường THPT bao gồm các thành tố: mục đích và nhiệm vụ TVHN; nội dung TVHN (tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, tìm hiểu đặc điểm tâm lý cá nhân, đối chiếu năng lực với yêu cầu nghề); phương pháp và hình thức TVHN; kiểm tra, đánh giá và các điều kiện thực hiện. Về khía cạnh quản lý, chương này luận giải tầm quan trọng của việc quản lý theo 4 chức năng quản lý giáo dục: lập kế hoạch hoạt động TVHN; tổ chức bộ máy nhân sự (Hiệu trưởng, tổ TVHN, GVCN, GVBM, Đoàn Thanh niên); chỉ đạo thực hiện hoạt động TVHN bám sát nhu cầu học sinh; kiểm tra, đánh giá kết quả TVHN. Chương 1 cũng phân tích các yếu tố chủ quan (nhận thức, năng lực của CBQL và giáo viên) và yếu tố khách quan (cơ chế chính sách, cơ sở vật chất, điều kiện kinh tế - xã hội địa phương) tác động đến công tác quản lý hoạt động TVHN.

Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông ở miền Đông Nam Bộ

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ và thực trạng tại 20 trường THPT thuộc 3 tỉnh (Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai). Các phát hiện chính được tổng hợp qua các bảng số liệu thực tế:

  1. Về thực trạng hoạt động TVHN:

    • Đa số CBQL, giáo viên và học sinh nhận thức được tầm quan trọng của TVHN, nhưng mức độ hiểu biết của học sinh về thị trường lao động và nghề nghiệp dự định chọn còn nhiều hạn chế.
    • Các hình thức TVHN tại trường chủ yếu diễn ra theo diện rộng (sinh hoạt dưới cờ, buổi nói chuyện chuyên đề), thiếu các hình thức tư vấn chuyên sâu theo nhóm nhỏ hoặc cá nhân.
    • Tỷ lệ học sinh tự tin khi đưa ra quyết định chọn nghề sau khi tham gia các hoạt động TVHN của nhà trường chưa cao; mức độ hài lòng của học sinh đối với các dịch vụ tư vấn hiện có ở mức trung bình.
  2. Về thực trạng quản lý hoạt động TVHN của Hiệu trưởng:

    • Lập kế hoạch: Kế hoạch TVHN thường lồng ghép chung trong kế hoạch năm học, chưa được xây dựng dựa trên khảo sát nhu cầu thực tế của học sinh đầu năm học.
    • Tổ chức thực hiện: Chưa hình thành được tổ TVHN chuyên trách; giáo viên kiêm nhiệm thiếu thời gian và chuyên môn sâu về tâm lý hướng nghiệp.
    • Chỉ đạo thực hiện: Sự chỉ đạo phối hợp giữa GVCN, GVBM và Đoàn Thanh niên chưa đồng bộ; thiếu sự chỉ đạo đổi mới phương pháp TVHN.
    • Kiểm tra, đánh giá: Tiêu chí kiểm tra, đánh giá hoạt động TVHN chưa rõ ràng, chủ yếu đánh giá qua số lượng buổi tổ chức thay vì đo lường sự chuyển biến trong nhận thức chọn nghề của học sinh.

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông ở miền Đông Nam Bộ

Dựa trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng, tác giả đề xuất 04 biện pháp quản lý:

STT Tên biện pháp quản lý Nội dung và mục tiêu thực hiện
1 Tăng cường sự tổ chức và chỉ đạo của Hiệu trưởng về việc thực hiện hoạt động TVHN theo nhu cầu của HS Tổ chức khảo sát, phân loại nhu cầu chọn ngành/nghề của học sinh ngay từ đầu năm học; chỉ đạo thiết kế các chương trình tư vấn phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh.
2 Xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng năng lực TVHN cho đội ngũ tư vấn trong trường THPT Lập kế hoạch tập huấn kiến thức tâm lý học hướng nghiệp, kỹ năng thu thập thông tin thị trường lao động và kỹ thuật tư vấn cho GVCN, GVBM, CBĐTN.
3 Hoàn thiện chức năng chỉ đạo của Hiệu trưởng về kiểm tra, đánh giá hoạt động TVHN Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả TVHN dựa trên mức độ nhận thức nghề, sự tự tin chọn nghề của học sinh và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của giáo viên.
4 Bổ sung quy chế về quản lý hoạt động TVHN cho đội ngũ tham gia TVHN của trường THPT Ban hành quy định rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm, định mức giờ làm việc và chế độ thi đua, khen thưởng cho cán bộ, giáo viên làm công tác TVHN.
  • Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi: Khảo nghiệm ý kiến 30 chuyên gia (CBQL và giáo viên cốt cán) cho thấy cả 4 biện pháp đều được đánh giá ở mức cần thiết và khả thi cao.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm Biện pháp 1 tại trường THPT cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng về: mức độ quan tâm đến hoạt động TVHN, sự hiểu biết về ngành nghề dự định chọn, căn cứ chọn nghề hợp lý và nhận thức về việc rèn luyện phẩm chất, kỹ năng nghề nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về TVHN và quản lý hoạt động TVHN trong trường THPT; xác định rõ nội hàm các khái niệm: tư vấn, hướng nghiệp, tư vấn hướng nghiệp ở trường THPT, quản lý hoạt động TVHN ở trường THPT.
  2. Xác lập khung quản lý hoạt động TVHN trong trường THPT theo 4 chức năng quản lý giáo dục cốt lõi (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá), khắc phục cách tiếp cận phân mảnh theo từng thành tố rời rạc trước đây.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ dữ liệu thực trạng toàn diện về hoạt động TVHN và quản lý hoạt động TVHN tại 20 trường THPT thuộc 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai) trên mẫu khảo sát 2.863 khách thể.
  2. Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế: hoạt động TVHN chưa dựa trên khảo sát nhu cầu học sinh, đội ngũ tư vấn thiếu kỹ năng chuyên môn, và khâu kiểm tra đánh giá còn mang tính hình thức.
  3. Đề xuất hệ thống 04 biện pháp quản lý có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, đã được khảo nghiệm chuyên gia và thực nghiệm sư phạm chứng minh hiệu quả nâng cao mức độ hiểu biết nghề và sự tự tin chọn nghề của học sinh THPT.

Kiến nghị đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật quy định vị trí việc làm, chế độ chính sách và định mức giờ dạy cho giáo viên kiêm nhiệm làm công tác TVHN trong trường THPT; ban hành chuẩn chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ TVHN.
  • Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh: Tổ chức các lớp bồi dưỡng định kỳ về nghiệp vụ TVHN cho CBQL và giáo viên cốt cán; xây dựng cổng thông tin hướng nghiệp kết nối dữ liệu thị trường lao động địa phương với các trường phổ thông.
  • Đối với Ban giám hiệu trường THPT: Đưa hoạt động TVHN vào kế hoạch năm học chính thức; thành lập tổ/bộ phận TVHN kiêm nhiệm; chủ động khảo sát nhu cầu học sinh và phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát thực trạng tại 20 trường THPT công lập thuộc 03 tỉnh (Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai) trong tổng số 5 tỉnh miền Đông Nam Bộ; chưa khảo sát mở rộng khối trường THPT ngoài công lập và các trung tâm giáo dục thường xuyên. Trong 04 biện pháp đề xuất, tác giả mới tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với Biện pháp 1 (chỉ đạo thực hiện TVHN theo nhu cầu học sinh).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quản lý hoạt động TVHN đối với toàn bộ các tỉnh thành thuộc khu vực Đông Nam Bộ; nghiên cứu mô hình phối hợp giữa trường THPT với các doanh nghiệp, khu công nghiệp trong công tác TVHN; triển khai thực nghiệm đồng bộ cả 4 biện pháp quản lý trên các nhóm trường có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Quản lý giáo dục: Tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục theo tiếp cận chức năng; kỹ thuật thiết kế bộ công cụ điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu và phương pháp xử lý dữ liệu SPSS trong nghiên cứu giáo dục.
  • Đối với cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường THPT): Cung cấp khung hướng dẫn thực hành để lập kế hoạch, phân công nhân sự, chỉ đạo tổ chức và xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá hoạt động TVHN dựa trên nhu cầu người học.
  • Đối với cơ quan quản lý giáo dục (Sở GD&ĐT, Phòng GD Trung học): Cung cấp dữ liệu thực tiễn phục vụ việc hoạch định chính sách bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hướng nghiệp và quy hoạch mạng lưới phân luồng học sinh sau THPT tại khu vực miền Đông Nam Bộ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận quản lý hoạt động TVHN theo khung lý thuyết nào?

Luận án tiếp cận nghiên cứu theo 4 chức năng quản lý giáo dục cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá; đồng thời kết hợp tiếp cận hoạt động, tiếp cận hệ thống - cấu trúc và tiếp cận lịch sử - logic.

2. Quy mô mẫu khảo sát thực trạng của đề tài được thực hiện như thế nào?

Luận án khảo sát tổng cộng 2.863 người tại 20 trường THPT công lập thuộc 3 tỉnh (Bà Rịa – Vũng Tàu 06 trường, Bình Dương 04 trường, Đồng Nai 10 trường), gồm: 35 cán bộ quản lý, 462 giáo viên (GVCN, GVBM, CBĐTN) và 2.366 học sinh lớp 12. Ngoài ra còn phỏng vấn sâu 69 người (10 CBQL, 15 GV, 44 HS) và lấy ý kiến khảo nghiệm của 30 chuyên gia.

3. Tác giả đề xuất bao nhiêu biện pháp quản lý và biện pháp nào được thực nghiệm?

Tác giả đề xuất 04 biện pháp quản lý. Trong đó, Biện pháp 1 ("Tăng cường sự tổ chức và chỉ đạo của Hiệu trưởng về việc thực hiện hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông") được lựa chọn để tiến hành thực nghiệm sư phạm đối chứng.

4. Phần mềm và kỹ thuật thống kê nào được sử dụng để xử lý số liệu?

Luận án sử dụng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 20 để thống kê mô tả (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, thứ hạng) và phân tích so sánh dữ liệu khảo sát thực trạng cũng như kết quả thực nghiệm sư phạm.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Trần Vĩnh Linh đã hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động TVHN trong trường THPT theo tiếp cận chức năng quản lý. Công trình phản ánh thực trạng hoạt động TVHN và công tác quản lý của Hiệu trưởng tại 20 trường THPT thuộc 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ với dữ liệu thống kê từ 2.863 khách thể. Hệ thống 04 biện pháp quản lý do tác giả đề xuất có tính khoa học, đã được khảo nghiệm chuyên gia và thực nghiệm sư phạm chứng minh tính khả thi, đóng góp thiết thực cho công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT.