Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông. Thực trạng quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông ở miền Đông Nam Bộ. Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông ở miền Đông Nam Bộ.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài 1. Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông Giữa thế kỉ XIX, nhu cầu hướng nghiệp, đặc biệt là tư vấn, tuyển chọn nghề nghiệp xuất hiện từ chính sự đòi hỏi của cuộc sống, khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển.
Các nhà Tâm lí học làm việc trong các doanh nghiệp khi nghiên cứu sự thích ứng của người công nhân đối với công việc đã đi đến kết luận rằng, để con người có thể làm tốt một công việc cụ thể, không chỉ phụ thuộc vào việc tổ chức dạy nghề như thế nào mà còn phụ thuộc vào người đó có những năng lực phù hợp với nghề hay không. Từ phát hiện này, các nhà tâm lí học đề xuất đối với các nhà tuyển dụng rằng trước khi nhận một ai đó vào một vị trí lao động cần phải tìm hiểu người ấy có những năng lực phù hợp hay không, sau đó mới tiến hành đào tạo. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, TVHN thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học độc lập với những công trình nghiên cứu lí thuyết điển hình của các nhà tâm lí học tư vấn Davis (1907), Parsons (1909), Keller và Viteles (1937), Kettell (1880), Gallton (1883)… Năm 1907, Davis đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan. Tuy nhiên, TVHN, chọn nghề thật sự lớn mạnh kể từ khi Frank Parsons, người mà sau này được coi là “cha đẻ của hướng nghiệp”, thành lập “Văn phòng TVHN” ở Boston năm 1908, (Boston’s Vocational Bureau) và xuất bản sách “Chọn nghề” (Choosing a Vocation) vào năm 1909.
Parsons cho rằng công tác hướng nghiệp phải được thể hiện trong 3 quá trình sau: 1) Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng, sở thích, hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề; động lực thúc đẩy bạn chọn nghề; 2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận lợi và khó khăn; sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong các giới hạn khác nhau của công việc; 3) Hiểu biết về mối 12 liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của bản thân và yêu cầu của công việc cụ thể. Không phải là lí thuyết đầu tiên về TVHN, nhưng lí thuyết có sức tồn tại lâu bền nhất và được sử dụng nhiều nhất hiện nay chính là lí thuyết của Holland. Theo Holland (1986), lựa chọn nghề của cá nhân là một sự thể hiện tính cách trong thế giới nghề của cá nhân đó, đặc điểm nhân cách của một con người cần phải được xem xét trong sự thống nhất với môi trường nghề nghiệp. Mục đích chính của TVHN và cũng chính là việc của các nhà tư vấn nghề là kết hợp giữa các kiểu loại nhân cách với những đặc điểm môi trường công việc.
Xuất phát từ lí thuyết của Holland, một thang tự đo trong định hướng nghề nghiệp có tên là Self-Directed Search (SDS)- Tự tìm kiếm nghề nghiệp- đã được xây dựng. Tuy nhiên, thang SDS chỉ đo được sở thích, hứng thú, mà không đo được năng lực thực tế của mỗi người. Người làm test này sẽ tự kiểm tra xem mình thích hoặc không thích gì (Walsh & Osipow, 1986, p. Năm 1937, trong tác phẩm Vocational guidance throughout the world, Keller và Viteles cung cấp một tầm nhìn toàn cầu về tư vấn và hướng nghiệp.
Họ đã khảo sát so sánh các quốc gia châu Âu, châu Á và châu Phi. Suốt thế kỉ XX và đầu thập kỉ thế kỉ XXI, tư vấn và hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáo dục, đặc biệt là cấp tiểu học và trung học. HS đã được định hướng nghề ngay từ lúc từ 15 tuổi cho đến 18 tuổi, bởi Keller và Viteles cho rằng thế giới nghề nghiệp rất đa dạng, thanh thiếu niên cần ý thức ngay từ nhỏ sự lựa chọn nghề tối ưu của họ dựa trên sở thích, năng lực, môi trường cuộc sống. Lịch sử cho thấy, các nhà Tâm lí học là những chuyên gia trước tiên quan tâm tới việc xây dựng hệ thống cơ sở lí luận cũng như những phương pháp hướng nghiệp: Năm 1880, nhà Tâm lí học Mĩ, Kettell là người đầu tiên đề nghị đưa phương pháp Test (Trắc nghiệm tâm lí) vào công tác tuyển chọn nghề thì năm 1883, nhà Tâm lí học Anh, Gallton lần đầu tiên sử dụng Test để chẩn đoán nhân cách nhằm mục đích tư vấn nghề nghiệp.
Năm 1895, Galton cùng với nhà Tâm lí học Pháp Binet đã thành lập Sở tư vấn nghề nghiệp đầu tiên tại Pháp. Đến đầu thế kỉ XX các cơ sở dịch vụ tư vấn, hướng nghiệp lần lượt ra đời ở Mĩ, Anh, CHLB Đức… Như vậy, ngay từ khi ngành hướng nghiệp ra đời, một nội dung quan trọng của nó đó là hoạt động tư vấn, tuyển chọn nghề. 13 Lee & Ekstrom (1987); Schmidt (1996); Roger (1998); Zunker (2002) lần lượt cho ra đời những công trình nghiên cứu về tham vấn nghề cho HS trong nhà trường phổ thông như “Counseling in school: Essential services and comprehensive programs”, “Counseling In schools Multicultural and Development, American Counseling Association”, “Career counseling: applied concepts of life planning”. Các nghiên cứu này tập trung ở các vấn đề sau đây: 1) Xác định vai trò của tham vấn viên trong việc định hướng nghề và tham vấn nghề.
Họ khẳng định: Tham vấn viên giống như một nhà nghiên cứu hành vi ứng xử; tham vấn viên ở trường là tác nhân thay đổi; tham vấn viên được coi như một kĩ thuật viên. 2) Xác định mục tiêu, hình thức, phương pháp định hướng nghề và tham vấn nghề cho HS từ cấp tiểu học đến THPT. 3) Cung cấp những dịch vụ nghề nghiệp cho HS. 4) Xác định các tiêu chí đánh giá, phương pháp đánh giá, nội dung đánh giá kiến thức, kĩ năng, khả năng, và các mục đích khác của chương trình GDHN và tham vấn nghề trong trường phổ thông.
Các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy tham vấn nghề đã có một hệ thống lí luận làm cơ sở cho việc phát triển lí luận về hoạt động TVHN ở Việt Nam (Dẫn theo Trương Thị Hoa, 2014, tr. Nửa cuối thế kỉ XX, TVHN được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm và ngày càng có nhiều nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn về hoạt động TVHN trong nhà trường phổ thông tập trung ở các vấn đề sau đây: Vai trò của tham vấn viên trong việc định hướng nghề và tham vấn nghề; Xác định mục tiêu, hình thức, phương pháp định hướng nghề và tham vấn nghề cho HS từ cấp tiểu học đến THPT; Cung cấp những dịch vụ nghề nghiệp cho HS. Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng đưa ra các tiêu chí đánh giá, phương pháp đánh giá, nội dung đánh giá kiến thức, kĩ năng, khả năng, và các mục đích khác của chương trình GDHN và tham vấn nghề trong trường phổ thông. Cụ thể: Dick & Rallis (1991), trong bài viết “Factors and influences on high school students' career choices” và Gati & Saka (2001) khi nói về“Counseling High school students' career-related decision-making difficulties” cũng đã chỉ ra những khó khăn của HS trong quá trình chọn nghề, đó là: Không lựa chọn được nghề, không nhận thức rõ ràng khả năng, sở thích và giá trị, quan niệm của bản thân phù hợp với nghề nào.
14 Carey & Harrington (2010); Lapan (2012); Hatch (2014); Carey & Martin (2015) đã đưa ra quan điểm chung về hoạt động tham vấn nghề với nội dung là nghiên cứu những đặc điểm của người được tư vấn như: năng lực, sở thích, năng khiếu và những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của bản thân họ như: giáo dục, gia đình, xã hội, thái độ, cảm xúc, sự hài lòng. Trong quá trình tham vấn cần xây dựng tổng thể thông tin về nghề, những công việc thiếu, đủ, cần nguồn nhân lực và hướng dẫn HS phân tích, lựa chọn xây dựng kế hoạch nghề nghiệp và đưa ra quyết định nghề nghiệp phù hợp với bản thân các em và để làm được điều đó bản thân người được tham vấn cũng cần trang bị cho mình những hiểu biết, kiến thức, kĩ năng về thế giới công việc. Yaqoob & Samad (2017) trong công trình “Senior high school career planning: What students want” đã nêu mục đích của nghiên cứu về TVHN ở Pakistan nhằm: Đánh giá kiến thức tư vấn nghề nghiệp của HS; Thái độ của HS đối với hoạt động tư vấn nghề nghiệp và sự cần thiết (hiện diện) của các cố vấn nghề nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau ở cấp trung học, những người sẽ giúp HS trong việc đưa ra quyết định nghề nghiệp đúng đắn. Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT Ở nhiều nước, công tác hướng nghiệp được đặc biệt chú trọng bao gồm cả TVHN và giáo dục nghề nghiệp.
Ngành giáo dục của mỗi quốc gia đều chủ động tổ chức hướng nghiệp ngay từ bậc THCS, thậm chí ngay cả những bậc học thấp hơn. Hoạt động TVHN đã được định hướng từ việc thiết kế chương trình giáo dục trong nhà trường của mỗi quốc gia. Việc giảng dạy các môn năng khiếu, phát triển thiên hướng thuộc về ưu thế của mỗi cá nhân ở các bậc học, việc phân luồng chuyên môn, phân ban trong giáo dục… xét về bản chất cũng là những biện pháp hướng nghiệp. Vào những năm 1960, nhà tâm lí học người Mỹ John Holland (1919-2008) đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp khác nhau, ông đã chỉ ra rằng tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp khác nhau thì có một số nghề mà cá nhân có thể chọn để có được hiệu quả làm việc cao nhất.
Nói cách khác, ông cho rằng khi lựa chọn một nghề nào, con người có xu hướng sẽ tìm kiếm những môi trường làm việc mà ở đó, họ được thể hiện bản thân, thể hiện 15 cái tôi của mình và có xu hướng không chọn những việc không phù hợp với đặc điểm nhân cách của mình. Lý thuyết của John Holland đã và đang được các nhà quản lí sử dụng rộng rãi trong thực tiễn quản lí nhân sự cũng như quản lí TVHN trên toàn thế giới (Dẫn theo James A. Athanasou và Raoul Van Esbroeck, 2008).