Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu nước ngoài Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động của Tổ CM, cách thức quản lý hoạt động của Tổ CM; nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có và vai trò của Tổ CM để GV thực hiện tốt việc dạy học của mình. Ở Xô Viết, một số nhà giáo dục như Xu KhômLinxki (1918-1970), A.Makarenko (1888-1939) khẳng định: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên” [19, tr.
Bởi vậy, để có đội ngũ GV tốt thì Hiệu trưởng phải có quyền được tuyển lựa đội ngũ GV, Tổ CM phải biết sử dụng và phân công nhiệm vụ hợp lý cho GV. Từ thế kỷ thứ XIX, NCBH đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu, trong đó có Nhật Bản, khơi mào cho phương pháp giảng dạy nâng cao theo hướng đổi mới. Những năm cuối 1990, Sato cùng các đồng nghiệp phát triển NCBH là để thu hút học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật; những nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kỳ bùng nổ kinh tế, bắt đầu sự suy thoái kinh tế; suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành. Nhiều vấn nạn xảy ra như HS làm việc riêng, không chú ý trong giờ học, GV chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống, một chiều.
Một vấn đề nghiêm trọng ở đây là đa số HS Nhật Bản đã đánh mất niềm đam mê, sự yêu thích và hứng thú học tập. Để thay đổi, Sato và các đồng nghiệp của mình đã giới thiệu vấn đề NCBH cho các tổ, nhóm HS. Trong NCBH cho nhóm HS thì tất cả các GV cần tham gia, họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh, giúp đỡ HS nhiều hơn. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại thời điểm đó, Sato ước tính có khoảng 2000 trường Tiểu học, 1000 trường THCS đang hoạt động theo phương pháp NCBH.
Ở Hoa Kỳ, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập đến vấn đề liên quan tới hoạt động sư phạm. Họ thấy rằng, dù đã triển khai những hoạt động nhóm và giảng viên đã tin tưởng vào hướng đi của giáo dục nhưng sự thật thì không làm thay đổi nhiều về sự chú ý đối với cách học của nhóm trẻ; họ cũng không làm thay đổi được nhiều trong việc hướng HS tìm ra và tiếp cận với những kiến thức toán học sâu rộng hơn. Tại Nhật Bản, những học giả đã giới thiệu NCBH như một phương pháp phát triển chuyên môn đã phản đối những hoạt động phát triển chuyên môn ngắn hạn thông thường; khẳng định tầm quan trọng của một phương pháp được duy trì và luyện tập. NCBH được miêu tả như một quá trình gồm: Xây dựng và thực hiện kế hoạch, thảo luận về vấn đề NCBH, xem xét lại kế hoạch đã đề ra (không bắt buộc), giảng dạy theo bài học mẫu (không bắt buộc) và chia sẻ những đánh giá về mẫu bài học ôn tập (Fernandez and Yoshida,2004).
Quá trình NCBH được thể hiện trong nhiều tài liệu quốc tế, gồm có 6 bước: 1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học. 2) Quan sát việc thực hiện bài học 3) Thảo luận về bài học 4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tùy chọn) 5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tùy chọn) 6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học.36] Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đồng quan điểm, cho rằng NCBH sẽ dần dần làm thay đổi thực tiễn giảng dạy cả GV, học tập của HS và văn hóa trường học. Để đổi mới giáo dục thì phát triển đội ngũ, hoạt động chuyên môn của GV được đặt lên hàng đầu. Những năm gần đây, NCBH đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục và các học giả trên thế giới như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Anh, Đức, Indonesia, Brunei, Thái Lan, Singapore,.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nghiên cứu hoạt động NCBH thì các nhà nghiên cứu đã thấy rằng dần dần sẽ giúp thay đổi hoạt động thực tiễn giảng dạy của GV, học tập của HS, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhà trường. Nghiên cứu trong nước Dự án ban đầu được xây dựng và thực hiện kế hoạch nhằm thúc đẩy việc lấy trẻ em làm trung tâm trong các trường học. Từ tháng 10/2004, Bộ GD&ĐT cùng cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã thực hiện dự án này và đến tháng 8/2007 triển khai thí điểm với 5 trường. Từ tháng 6/2006, Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Bắc Giang và JICA đã quyết định thí điểm hoạt động NCBH dưới hình thức SHCM tại 1 trường thuộc TP Bắc Giang và các huyện Yên Dũng, Lục Nam, Việt Yên, Hiệp Hòa của tỉnh Bắc Giang.
Các thành viên JICA đã đến thăm và cùng nhau thảo luận và báo cáo với Bộ GD&ĐT về các trường tiến hành thí điểm. Lúc đầu, khi lựa chọn trường thí điểm thì hầu hết GV tham gia với tư tưởng không được thoải mái, có GV còn nghi ngờ hiệu quả của NCBH. Tuy nhiên, sau khi kết thúc dự án thì đa số GV họ đã tham gia một cách tích cực, kể cả khi CBQL chưa quan tâm nhiều. Điều đó cho thấy, hoạt động tổ CM theo hướng NCBH có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn, là sơ sở cho việc đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá.
Tháng 3/2013, Bộ GD&ĐT đã tổ chức Hội thảo tập huấn CBQL, GV cốt cán về đổi mới SHCM thông qua mô hình NCBH tại các trường thí điểm. Tháng 8/2013, Bộ GD&ĐT tiến hành tập huấn cho CBQL về “Quản lý hoạt động đổi mới Phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS trong trường THCS”, trong đó có đề cập đến vấn đề đổi mới sinh hoạt Tổ CM thông qua NCBH. Ở trong nước, các tác giả đã có một số công trình NCBH như: - Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, ĐHSP Thái Nguyên, 2012, Phương pháp Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV, sinh viên Sư phạm thông qua mô hình NCBH (Tạp chí GD, 2012); - Hội nghị tập huấn Đổi mới phương pháp sinh hoạt Tổ CM theo hướng NCBH (12/9/2013) 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Bài viết sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH (03/12/2014) của Sở GD&ĐT Hải Phòng. - Website Sở GD&ĐT tỉnh Lạng Sơn; TS.Bùi Phương Nga-Viện KHGD Việt Nam, TS.Vũ Thị Sơn - Viện NCSP, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội, 12-13/8/2014, Chương trình bồi dưỡng TTCM “Đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và tổ chức các hoạt động chuyên môn THCS”.
Hoạt động NCBH là hoạt động chính trong các buổi SHCM của đội ngũ CBQL, GV ở tất cả các cấp học, bậc học. SHCM theo hướng NCBH nhằm nâng cao năng lực, trình độ tay nghề cho GV, tạo cơ hội và điều kiện học tập cho HS; nhằm phát triển nhà trường một cách bền vững. Vì vậy, quản lý hoạt động NCBH của Hiệu trưởng trường THCS đã được các nhà sư phạm, nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã tiến hành tổng kết về việc triển khai NCBH ở các bậc học nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý hoạt động Tổ CM theo hướng NCBH, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông.
Trong luận văn này đã đi sâu hơn việc nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động Tổ CM trong nhà trường THCS theo hướng NCBH nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường. Một số khái niệm cơ bản 1. Các khái niệm công cụ 1. Quản lý Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, khi muốn hoàn thành mục đích của riêng mình hay mục đích chung, họ đều phải dựa vào sự nỗ lực, sự đoàn kết của tất cả mọi người, tạo nên sức mạnh cộng đồng.
Khi đó cộng đồng mới đạt được mục đích chung và cá nhân dựa vào đó mới đạt được mục đích của riêng mình. Như vậy, khi con người liên kết lại với nhau thành một tổ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức thì đương nhiên phải có sự quản lý và khi đó, quản lý là một thuộc tính tất yếu của bất kỳ tổ chức nào. Chỗ nào có hoạt động của con người thì ở đó quản lý cũng xuất hiện. Như vậy, “Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội”.
Khi xã hội loài người phát triển thì hoạt động quản lý cũng phát triển theo. Ngày nay, hoạt động quản lý đã phát triển hơn và đã trở thành môn học khoa học quản lý. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người nhằm liên kết và điều hành các thành viên trong một tổ chức hướng tới việc hoàn thành mục tiêu đã đặt ra. Bởi vậy, đã có nhiều quan niệm cho rằng: “Quản lý là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn”.
Theo Giáo trình “Lý luận quản lý” của Dương Hải Hưng có viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [26, tr. Có quan điểm thì cho rằng: “Quản lý là hoạt động của một người hoặc nhóm người nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc chung thông qua sự liên kết những nỗ lực của người khác”.Có người lại cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân trong tổ chức để đạt được mục đích của tổ chức”. Từ những tư tưởng chung và với tư cách Quản lý là một hoạt động, có thể hiểu: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức đã đề ra” [26, tr.