phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động của tổ chuyên môn trường Trung học cơ sở theo hướng dạy học tích hợp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý của tổ chuyên môn trường Trung học cơ sở Liên Hà huyện Đông Anh thành phố Hà Nội theo hướng dạy học tích hợp. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý của tổ chuyên môn trường Trung học cơ sở Liên Hà huyện Đông Anh thành phố Hà Nội theo hướng dạy học tích hợp. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHUYÊN MÔN TRƢỜNG THCS THEO HƢỚNG DẠY HỌC TÍCH HỢP 1.
Tổng quan nghiên cứu về quản lý tổ chuyên môn ở các trƣờng THCS. Nghiên cứu về quản lý giáo dục Ngày nay ai cũng biết rằng quản lý đóng một vai trò hết sức quan trọng trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù là sản xuất hay kinh doanh, dù trong hoạt động văn hoá hay trong hoạt động xã hội. Đối với sự nghiệp giáo dục cũng vậy, hiệu quả và chất lượng giáo dục phụ thuộc vào chính giáo viên và công tác quản lý hoạt động của họ trong nhà trường. Quản lý hoạt động dạy học là công việc chính của người tổ trưởng chuyên môn, vì vậy quản lý hoạt động dạy học luôn được các nhà nghiên cứu đề cập trong các công trình khoa học GD như giáo trình giảng dạy của trường đại học Sư phạm Hà Nội I; Trường Đại học GD, Đại học quốc gia Hà Nội, các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý GD cũng có một số tác giả viết về đề tài này[7,8]: 1.
Quản lý hoạt động của tổ chức Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được biểu hiện cụ thể trong hoạt động tổ chức, nó bao gồm hai mặt: tổ chức chính trị và tổ chức kỹ thuật. Dựa trên những cơ sở khoa học về quản lý nhà nước ta chia các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước thành hai nhóm là nhóm những nguyên tắc chính trị-xã hội và nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì yếu tố tổ chức kỹ thuật và chính trị trong quản lý hành chính nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ nhau. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật là để thực hiện một cách đúng đắn các nguyên tắc chính trị-xã hội và việc thực các nguyên tắc chính trị - xã hội là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật.
Nghiên cứu về hoạt động của tổ chuyên môn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sinh hoạt chuyên môn giúp cho GV nâng cao được trình độ tác nghiệp của bản thân, hình thành các mối quan hệ đồng nghiệp tốt đẹp, xây dựng môi trường học tập và tự học suốt đời. Từ đó góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động được thực hiện thường xuyên theo định kì nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp thông qua việc dự giờ, phân tích bài học[1]. Nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới về dạy học tích hợp: Xavier Roegiers cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực (compétence) là khái niệm cơ sở" của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration).
Theo Xavier Roegiers, sư phạm tích hợp (SPTH) là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hoà nhập HS vào cuộc sống lao động. Như vậy SPTH tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa. Theo Xavier Roegiers , có 4 cách tích hợp môn học được chia thành 2 nhóm lớn: (1) Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học. (2) Phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau.
Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học, được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học. Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học. Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp. Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung cho nhau, thường dựa vào 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một môn học công cụ.
Trong trường hợp này môn học tích hợp được cùng một GV giảng dạy. Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học tích hợp. Lên cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông, hệ thống khái niệm trong các môn học phức tạp hơn, đòi hỏi sự phát triển tuần tự chặt chẽ hơn, mỗi môn học thường do một GV được đào tạo chuyên đảm nhiệm, do đó cách tích hợp thứ 3 khó thực hiện, người ta thiên về áp dụng cách 4, tuy có nhiều khó khăn nhưng phải tìm cách vượt qua vì DHTH là xu hướng tất yếu, đem lại nhiều lợi ích. Tác giả D' Hainaut (1977) đưa ra 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học - Quan điểm "đơn môn": có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống nội dung của một môn học riêng biệt.
Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ. - Quan điểm "đa môn": một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan với những kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau. Các môn học tiếp tục được tiếp cận riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung. - Quan điểm "liên môn": nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của những môn học khác nhau.
- Quan điểm "xuyên môn": nội dung học tập hướng vào phát triển những kĩ năng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết những tình huống khác nhau. Nhu cầu phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường hướng tới quan điểm liên môn và quan điểm xuyên môn. Để đáp ứng và phù hợp với thực tiễn giáo dục phổ thông, chương trình đào tạo GV ở một số nước như Anh, Úc chuyển theo hướng tích hợp nhằm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển cho sinh viên sư phạm nền tảng về tri thức và triết lý cá nhân về chuyên môn sư phạm và năng lực nghề nghiệp. Chương trình đào tạo GV của Anh và Úc chú trọng về đào tạo nghiệp vụ sư phạm nhằm hình thành ở sinh viên năng lực và kỹ năng sư phạm cần thiết.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã khẳng định chương trình đào tạo GV của hai quốc gia trên không nặng về rèn luyện kỹ thuật nghiệp vụ giảng dạy do tập trung đào tạo chuyên môn nghiệp vụ theo diện rộng (tích hợp liên môn, xuyên môn). Điều này giúp sinh viên sư phạm trở thành những nhà chuyên môn sư phạm biết kết hợp chặt chẽ giữa dạy lý thuyết và trải nghiệm thực tế, ứng dụng lý thuyết dạy học và giáo dục chung vào lĩnh hội những lĩnh vực giảng dạy cụ thể. Một mặt khác, khối kiến thức cơ sở ngành không được tách biệt thành những môn học cụ thể như Toán, Tiếng Việt, Lịch sử,. mà được tích hợp vào các học phần về nghiên cứu chương trình môn học (lý luận dạy học môn học).
Xây dựng chương trình đào tạo GV theo hướng tích hợp làm chương trình gọn nhẹ và tạo điều kiện cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở nhà. Như vậy, nghiên cứu chương trình đào tạo GV của Anh và Úc có thể nhận thấy: Sinh viên ngay từ khi còn học nghề sư phạm đã được chú trọng hình thành năng lực và kỹ năng dạy học tích hợp. Có thể thấy, xu hướng xây dựng các môn học thuộc KHXH rất phong phú, có nước tích hợp mạnh thành môn tích hợp, có nước tồn tại cả môn tích hợp và môn độc lập. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Có một số từ ngữ mang nội dung gần với nghĩa “quản lý” như: Quản trị, điều khiển, chỉ huy, điều hành, lãnh đạo,. Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự xuất hiện, phát triển của xã hội loài người. Quản lý là một phạm trù khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi thời đại. Khoa học quản lý cũng như nhiều khoa học xã hội - nhân văn khác, luôn gắn với tiến trình phát 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc, tính thời đại.
Cũng có thể hiểu quản lý gồm 2 đơn vị nội dung cơ bản: Cai quản và pháp lý. Ngày nay quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, một trong các quan niệm đó là : “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung nhằm thực hiện được những mục tiêu quản lý ”. Quản lý giáo dục và chức năngcủa quản lý giáo dục Quản lý giáo dục Có nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý giáo dục khác nhau nhưng nói chung chúng ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục, nhằm đạt mục tiêu mà giáo dục đã đề ra.[9,10] Chức năng quản lý: Quản lý là những tác động hướng đích với chức năng lập kế hoạch, tổ chức hay chỉ đạo, điều khiển và kiểm tra. Bản chất của quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua các chức năng quản lý.[9,10] - Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, các con đường, các biện pháp, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động thực hiện các mục tiêu đó.
Kế hoạch là nền tảng của quản lý.