mở đầu, tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận án gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động liên kết đào tạo của trƣờng cao đẳng kỹ thuật với doanh nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo của trƣờng cao đẳng kỹ thuật với doanh nghiệp. - Chƣơng 3: Các giải pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo của trƣờng cao đẳng kỹ thuật với doanh nghiệp. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƢỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT VỚI DOANH NGHIỆP 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu trên thế giới về liên kết của nhà trƣờng với doanh nghiệp a) Trên thế giới, ở nhiều nƣớc đã nghiên cứu, áp dụng LKĐT của nhà trƣờng với DN. Các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà kinh tế. đã công bố nhiều công trình, mô hình về liên kết giữa nhà trƣờng và DN.
Ở CHLB Đức, LKĐT giữa nhà trƣờng với DN đƣợc xem là hình thức đào tạo quan trọng và đƣợc áp dụng rộng rãi trong toàn quốc. Điển hình là mô hình Dual System thƣờng đƣợc dịch là “đào tạo kép” [14]. Đây là loại hình đào tạo cơ bản, có nhiều ƣu điểm nổi trội trong việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả ĐTN và đƣợc nghiên cứu áp dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số nhƣợc điểm đang đƣợc các nhà giáo dục CHLB Đức nghiên cứu khắc phục và hoàn thiện.
Nếu áp dụng nguyên mẫu, cứng nhắc vào đào tạo ở nƣớc ta sẽ gặp những khó khăn nhất định và có thể không có tính khả thi. Việc LKĐT giữa nhà trƣờng với DN đã từng bƣớc đƣợc nghiên cứu, triển khai ở nhiều nƣớc của châu Á. Ở Trung Quốc, quán triệt quan điểm “Ba kết hợp” (đào tạo, sản xuất và dịch vụ). Các trƣờng dạy nghề gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ.
Kết hợp đào tạo phong phú và đa dạng góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề. Ở Thái Lan, một trong những mục tiêu chiến lƣợc của kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 8 (1997 - 2001) và lần thứ 9 (2002 - 2006) của Thái Lan tập trung vào phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế năng động. Để có nhân lực kỹ thuật phục vụ tại các DN sản xuất, họ đã tổ chức đào tạo tại xƣởng sản xuất của mình. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế trƣớc mắt trong thời gian đến năm 1998.
Đến năm 1999, Chính phủ Thái Lan đã nghiên cứu và xây dựng “Hệ thống hợp tác đào tạo nghề” (Cooperative Training System) để 10 giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng nói trên và hƣớng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tƣơng lai [111]. b) Kết quả nghiên cứu nói trên đã đƣợc các tác giả Việt Nam giới thiệu trong các bài tổng thuật về kết quả nghiên cứu, mô hình, kinh nghiệm quản lý liên kết giữa cơ sở đào tạo và DN. Trong bài viết “Gắn kết trƣờng đại học với DN trong đào tạo nhân lực” [108], tác giả Mạnh Xuân đã cho biết, một nghiên cứu gần đây ở châu Âu về sự hợp tác giữa trƣờng đại học và DN thực hiện với hơn 3.000 trƣờng đại học (năm 2011), đã kết luận rằng, sự hợp tác gắn kết ấy đã đƣa lại lợi ích cho cả hai bên và cho xã hội. Trong bài viết “Kinh nghiệm đào tạo nhân lực của một số quốc gia trên thế giới và bài học tham khảo cho Việt Nam” [106], tác giả Trịnh Xuân Vũ cho biết, bí mật về sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Mỹ, Nhật Bản, các nƣớc phƣơng Tây trong những năm giữa của thế kỷ XX, hiện tƣợng những “con hổ”, “con rồng” ở khu vực Đông Á phần lớn đều nhờ vào nguồn nhân lực có chất lƣợng, nhờ vào mối liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ sở đào tạo với DN.
Tác giả Đoàn Nhƣ Hùng, khi giới thiệu về “LKĐT giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN ở một số nước trên thế giới và Việt Nam” [42], đã trình bày về các hình thức liên kết (ở Mĩ, Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản, Việt Nam), hợp tác giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN khảo sát ở Bắc Ninh, Hà Nội, Đồng Nai); lợi ích của các bên trong việc liên kết này; mô hình đào tạo liên kết của nhà trƣờng với DN (ở khu vực Châu Âu – Châu Mĩ, khu vực Châu Á, mô hình ở Việt Nam); nêu 13 hình thức phối hợp giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN; các yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm đến LKĐT giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với DN. Trong bài viết “Mối quan hệ giữa nhà trường với DN ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” [44], nhóm tác giả Đỗ Thế Hƣng, Phạm Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thu Thủy, cho rằng, cần phải thiết lập mối quan hệ hợp tác bền vững giữa trƣờng đại học với DN. Sự hợp tác đó sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên và cho xã hội, sẽ xóa bỏ đƣợc khoảng cách giữa lí thuyết với thực hành, giữa đào tạo với sử dụng, giữa tốt nghiệp với việc làm. Từ việc giới thiệu về mối quan hệ giữa nhà trƣờng với DN ở Đức, Mỹ và Canađa, liên hệ với thực trạng mối 11 quan hệ hợp tác giữa nhà trƣờng và DN ở Việt Nam, các tác giả đã rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác của nhà trƣờng với DN.
c) Các nghiên cứu về quản lý LKĐT của nhà trƣờng với DN trên thế giới thể hiện trên các phƣơng diện chủ yếu: - Quan điểm về mục tiêu LKĐT là để nâng cao chất lƣợng đào tạo và lợi ích kinh doanh của DN, đƣa lại lợi ích cho ngƣời học và toàn xã hội. - Nội dung liên kết bao gồm nhiều vấn đề liên quan đến quá trình đào tạo, đến phát triển năng lực của ngƣời học, về trách nhiệm của cơ sở đào tạo cũng nhƣ DN. - Một số phƣơng thức LKĐT đã đƣợc khẳng định tùy thuộc vào bản chất của nền giáo dục – đào tạo của các quốc gia, vào tính chất của các cơ sở đào tạo và loại hình sản xuất, kinh doanh của các DN. - Một số mô hình LKĐT đƣợc khẳng định giữa nhà trƣờng và DN: Mô hình hệ thống đào tạo kép (LKĐT song hành giữa nhà trƣờng với DN), Mô hình đào tạo luân phiên (sự luân phiên về trách nhiệm và thời gian trong quá trình LKĐT giữa nhà trƣờng và DN), Mô hình LKĐT hệ thống tam phƣơng (nhà trƣờng, DN và ngƣời sử dụng lao động), Mô hình dạy nghề tại DN (quá trình đào tạo đƣợc thực hiện hoàn toàn tại DN), Mô hình nhà trƣờng trong DN (cơ sở đào tạo trực thuộc DN), Mô hình DN trong nhà trƣờng (Cơ sở đào tạo có DN để ngƣời học rèn nghề),.
Nhƣ vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức, các nƣớc tiên tiến trên thế giới đã có nhiều thành tựu nghiên cứu về mối quan hệ của nhà trƣờng với DN trong phát triển nguồn nhân lực. Mối quan hệ đó đƣợc thể hiện trên nhiều phƣơng diện, từ mục tiêu liên kết, nội dung liên kết, hình thức và phƣơng pháp liên kết, tạo nên những mô hình thể hiện đặc trƣng của quan hệ giữa nhà trƣờng và DN, giữa đào tạo và sử dụng. Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, Việt nam đang tiếp thu có chọn lọc những bài học ấy để phát triển nguồn nhân lực ở Việt nam một cách bền vững, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các nghiên cứu ở Việt Nam về liên kết đào tạo của nhà trƣờng với doanh nghiệp Trên thực tế, hoạt động LKĐT của nhà trƣờng với DN đã đƣợc đề cập từ những năm 60 nhằm đáp ứng yêu cầu về lực lƣợng thanh niên vừa có trình độ văn hóa, có trình độ kỹ thuật để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế, loại hình trƣờng phổ thông học nghề đƣợc tổ chức.
Đặc trƣng của loại hình này là dạy kiến thức văn hóa cơ bản song song với những kiến thức kỹ thuật sơ cấp, rèn luyện trong lao động sản xuất để học sinh có thể tham gia lao động ở các đơn vị sản xuất. Về hình thức tổ chức, sự liên kết này đƣợc tập trung lại thành trại sản xuất, các nông trƣờng. Tuy nhiên, do những khó khăn khách quan và chủ quan nên loại hình này tồn tại không lâu. Từ khi đất nƣớc bƣớc vào thời kỳ đổi mới, GD&ĐT tiếp cận với các quy luật của cơ chế thị trƣờng, hội nhập với thế giới trong sự phát triển của khoa học kỹ thuật và yêu cầu cao của trình độ sản xuất.
Từ kinh tế nông nghiệp, nƣớc ta đã bƣớc sang thời kỳ kinh tế công nghiệp và tiệm cận với nền kinh tế tri thức. Vì vậy, mối liên hệ giữa giáo dục – đào tạo với sản xuất, kinh doanh, với các công ty, DN trở nên gắn bó mật thiết, hữu cơ và là nhân tố đảm bảo sự phát triển bền vững của các cơ sở đào tạo cũng nhƣ các nhà sản xuất. Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nƣớc, giáo dục – đào tạo cũng bắt đầu thoát khỏi cơ chế quan liêu bao cấp, nói không với bệnh thành tích, đào tạo không đạt chuẩn, tự chủ và tự chịu trách nhiệm đối với xã hội. Nhiều nghiên cứu về mối liên kết giữa nhà trƣờng và xã hội, giữa cơ sở đào tạo và DN đã đƣợc ngành giáo dục – đào tạo, các trƣờng đại học – cao đẳng, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học,… quan tâm nghiên cứu, đề xuất các giải pháp.
Nhiều đề tài khoa học, chuyển giao công nghệ của các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học, các tập đoàn, công ty, các tỉnh,… đã đề cập đến các phƣơng diện khác nhau của mối liên kết giữa cơ sở đào tạo và DN, góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả nhiệm vụ cung ứng nguồn nhân lực cho các thành phần kinh tế - xã hội.