phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, đề án được kết cấu gồm 3 phần: Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phần 2: Thực trạng quản lý hoat động kinh doanh của Viễn thông Hà Giang Phần 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động kinh doanh của Viễn thông Hà Giang 5 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản và tầm quan trọng của quản lý hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm quản lý Khái niệm quản lý là một khái niệm quen thuộc, xuất hiện trong đời sống thường ngày cũng như trong các báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này, có thể trích dẫn một số nguồn như sau: Theo Nguyễn Thị Gái (2010) cho rằng quản lý là quá trình đạt đến, mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của thủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Theo Đỗ Quốc Bình (2013) quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Quản lý là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hóa và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý, dự báo kết quả.
Tóm lại quản lý là hoạt động đặc biệt, trong đó quan trọng nhất là con người, đòi hỏi phải vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết. Nghệ thuật đó thể hiện ở thái độ cư xử có văn hóa, không ngoan và tế nhị, trong việc vận dụng các kinh nghiệm các nguyên tác chung vào từng con người cụ thể. Nói cho cùng, nghệ thuật quản lý con người là dựa trên các quy luật tâm lý học. * Khái niệm hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh là một khái niệm quen thuộc, xuất hiện trong đời sống của người dân cũng như trong các hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức khác nhau.
Khi nhắc đến các doanh nghiệp, người ta thường nhắc ngay đến hoạt động kinh doanh như một đặc trưng của các doanh nghiệp. Vậy hoạt động kinh doanh được hiểu như thế nào? Theo mục 16, điều 4, Luật doanh nghiệp 2014 thì kinh doanh là việc thực hiện liên tục một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến 6 tiêu thụ sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (Quốc hội, luật doanh nghiệp 2014, luật số 68/2014/QH13) Theo điều 3, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005 hoạt động kinh doanh hay hoạt động thương mại được hiểu như sau: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi khác. Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hóa, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời nhiều nhất. Tóm lại hoạt động kinh doanh là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm các hoạt động về đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác trên thị trường * Khái niệm quản lý hoạt động kinh doanh Từ khái niệm về quản lý và khái niệm về hoạt động kinh doanh có thể rút ra khái niệm về quản lý hoạt động kinh doanh.
Theo luật doanh nghiệp 2014 của Việt Nam, quản lý hoạt động kinh doanh là sự tác động của chủ thể quản lý một cách liên tục, có tổ chức tới đối tượng quản lý là tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực và cơ hội để tiến hành hoạt động kinh doanh đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp theo đúng pháp luật và thông lệ, trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh với hiệu quả tối ưu. Như vậy, quản lý hoạt động kinh doanh là một quá trình tổng thể, bao gồm việc sắp xếp, đánh giá tất cả các khâu từ sản xuất đến vận chuyển nhằm tạo hiệu suất tối đa. Quản lý hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp kiểm soát chặt chẽ từng bước một, khắc phục các vấn đề cơ bản thường gặp như doanh thu thấp, chi phí đầu tư cao, nhân viên thiếu động lực làm việc hay khách hàng không hài lòng. Quản lý hoạt động kinh doanh là các hoạt động được tiến hành thông qua việc tác động vào các hoạt động về hoạch định, tổ chức thực thi và kiểm tra, giám sát trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Đây cũng là cách hiểu được tác giả sử dụng xuyên suốt bài đề án này. Tầm quan trọng của quản lý hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp Hiểu đơn giản, một chương trình quản lý hoạt động kinh doanh sẽ giúp công ty xử lý được nhiều đầu việc hơn với chi phí ít hơn, ít phung phí thời gian, tiền bạc vào những mục tiêu dư thừa và có chất lượng cao hơn. Điều này đặc biệt có lợi cho những công ty start – up và những công ty đang oằn mình vật lộn trong cuộc chiến tiết kiệm chi phí triệt để và cần nhanh chóng cải thiện lợi nhuận trong thời gian ngắn. Cụ thể hơn dưới đây là một số lợi ích của việc quản lý hoạt động kinh doanh đối với công ty.
Nâng cao hiệu suất Một trong những lợi ích lớn nhất mà công ty có thể đạt được khi thực hiện chương trình quản lý hoạt động kinh doanh là nâng cao hiệu suất. Phần lớn quy trình kinh doanh của các công ty đang phí phạm bởi sự kết hợp lỏng lẻo, nỗ lực ở dạng thủ công (vốn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức do không tận dụng tự động hóa) và không có khả năng giám sát hiệu quả tiến độ công việc. Một chương trình quản lý hoạt động kinh doanh tổng thể, trái lại, sẽ nhận dạng và loại trừ những hoạt động đem lại hiệu suất kém và chỉ tập trung vào những hoạt động đem lại kết quả tốt nhất cho công ty mà thôi Cải thiện hiệu suất và lợi ích đem đến từ chương trình quản lý hoạt động kinh doanh Một chương trình quản lý hoạt động kinh doanh tổng thể hoàn toàn có khả năng được dùng sau đó nhằm khiến cho việc kinh doanh trở nên hiệu quả hơn nữa. Chương trình quản lý hoạt động kinh doanh thời điểm này sẽ giúp công ty đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp thực hiện một cách đồng nhất và giải quyết các trường hợp phát sinh nhanh nhất có thể.
Đối với trả nghiệm khách hàng, tất cả những điều trên đều trở thành những yếu tố quyết định họ có gắn bó lâu dài với doanh nghiệp hay không. Quản lý hoạt động kinh doanh sẽ giúp công ty đưa ra những quyết định sáng suốt nâng cao hiệu quả hơn nữa. Khi những hoạt động kinh doanh của công ty được diễn ra trơn tru và đáp ứng chính xác những chiến lược hay mục tiêu tổng thể, công ty đó có tính cạnh tranh trên thương trường cao hơn, có khả năng tạo lợi nhuận cao hơn. Nhờ vào chương trình quản lý hoạt động kinh doanh, các công ty có nền tảng phù hợp để thay đổi những hoạt động hiện tại vốn không mấy khả quan hoặc thực hiện những hoạt động mới nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Đặc điểm quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông - Kinh doanh viễn thông phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh có thể là doanh nghiệp Nhà nước (Tập đoàn BCVT Việt Nam; Tổng công ty viễn thông quân đội… ); doanh nghiệp cổ phần (Công ty cổ phần dịch vụ BCVT Sài gòn) và các loại hình doanh nghiệp khác. - Kinh doanh viễn thông phải gắn với thị trường. Thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng, không có thị trường thì không có khái niệm kinh doanh.
Thị trường kinh doanh viễn thông phải được hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống bao gồm các khách hàng sử dụng, các nhà cung cấp, mối quan hệ cung cầu giữa họ tác động qua lại để xác định giá cả, số lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ viễn thông - Kinh doanh viễn thông phải gắn với vận động của đồng vốn. Các doanh nghiệp viễn thông không chỉ có vốn mà còn cần phải biết cách thực hiện vận động đồng vốn đó không ngừng. Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột trong công thức tư bản của C. Mác, có thể xem công thức này là công thức kinh doanh: T-H-SX.-T’ , các doanh nghiệp viễn thông dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ (T) mua tư liệu sản xuất (H) để sản xuất (truyền đưa tin tức ) theo yêu cầu của khách hàng nhằm thu được số lượng tiền tệ lớn hơn (T’ ) - Mục đích chủ yếu của kinh doanh viễn thông là sinh lời - lợi nhuận (T’ – T>0) Quản lý hoạt động kinh doanh viễn thông là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của lãnh đạo doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp viễn thông, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông, nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và hệ thống xã hội.
Thực chất của quản trị kinh doanh viễn thông là quản trị con người trong doanh nghiệp viễn thông, thông qua đó, sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục tiêu đã định .