CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ 1.Định nghĩa hành vi khách hàng Có nhiều định nghĩa về hành vi khách hàng, sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu: - Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ, hành vi khách hàng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ. Hay nói cách khác, hành vi khách hàng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm đều có thể tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của khách hàng.
-Theo Kotler & Levy, hành vi khách hàng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ. Như vậy, qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể xác định hành vi khách hàng là: - Những suy nghĩ và cảm nhận của con người trong quá trình mua sắm và tiêu dùng. - Hành vi khách hàng là năng động và tương tác vì nó chịu tác động bởi những yếu tố từ môi trường bên ngoài và có sự tác động trở lại đối với môi trường ấy. - Hành vi khách hàng bao gồm các hoạt động: mua sắm, sử dụng và xử lý sản phẩm dịch vụ.
Ví dụ: Nghiên cứu hành vi tiêu dùng sản phẩm dầu gội đầu để biết được những vấn đề sau: Tại sao khách hàng mua dầu gội đầu (để làm sạch tóc hay để trị gàu)? Họ mua nhãn hiệu nào (Clear hay Sunsilk.)? Tại sao họ mua nhãn hiệu đó (họ tin rằng nhãn hiệu đó chất lượng tốt hơn hay đang được bán giảm giá)? Loại nào thường được khách hàng mua nhiều nhất (loại chai bao nhiêu ml)? Mua như thế nào (mua lẻ từng chai hay mua nhiều)? Khi nào mua (mua khi cần dùng, khi đi chợ hay khi đi mua sắm vào cuối tuần)? Mua ở đâu (chợ, siêu thị hay tiệm tạp hóa)? Mức độ mua (bao lâu mua 1 lần)?. 7 Tìm hiểu tất cả những vấn đề trên sẽ giúp cho các nhà sản xuất và kinh doanh dầu gội đầu biết được nhu cầu, động cơ sử dụng sản phẩm và thói quen mua sắm sản phẩm của khách hàng. Các nhà tiếp thị cần nghiên cứu kỹ hành vi khách hàng nhằm mục đích nắm bắt được nhu cầu, sở thích, thói quen của họ để xây dựng chiến lược Marketing phù hợp, từ đó thúc đẩy khách hàng mua sắm sản phẩm, dịch vụ của mình. Ngoài ra, các nhà tiếp thị cũng rất quan tâm đến việc tìm hiểu xem những khách hàng có thấy được các lợi ích của sản phẩm họ đã mua hay không (kể cả các lợi ích xã hội nếu có) và họ cảm nhận, đánh giá như thế nào sau khi mua sắm và sử dụng sản phẩm.
Bởi vì những tất cả những vấn đề này sẽ tác động đến lần mua sắm sau và thông tin truyền miệng về sản phẩm của họ tới những khách hàng khác. Sơ đồ trên cho thấy, hành vi khách hàng bao gồm những hành vi có thể quan sát được như số lượng đã mua sắm, mua khi nào, mua với ai, những sản phẩm đã mua được dùng như thế nào; những hành vi không thể quan sát được như những 8 giá trị của khách hàng, những nhu cầu và sự nhận thức của cá nhân, những thông tin gì người tiêu dùng đã ghi nhớ, họ thu thập và xử lý thông tin như thế nào, họ đánh giá các giải pháp như thế nào; và họ cảm thấy như thế nào về quyền sở hữu và sử dụng của nhiều loại sản phẩm khác nhau. Lý thuyết về công nghệ VoIP VoIP là một trong những công nghệ viễn thông đang được quan tâm nhất hiện nay không chỉ đối với các nhà khai thác, các nhà sản xuất mà còn cả với người sử dụng dịch vụ. VoIP có thể vừa thực hiện cuộc gọi thoại như trên mạng điện thoại kênh truyền thống (PSTN) đồng thời truyền dữ liệu trên cơ sở mạng truyền dữ liệu.
Như vậy, nó đã tận dụng được sức mạnh và sự phát triển vượt bậc của mạng IP vốn chỉ được sử dụng để truyền dữ liệu thông thường. VoIP (viết tắt của Voice over Internet Protocol, nghĩa là Truyền giọng nói trên giao thức IP) là công nghệ truyền tiếng nói của con người (thoại) qua mạng thông tin sử dụng bộ giao thứcTCP/IP. Nó sử dụng các gói dữ liệu IP (trên mạng LAN, WAN, Internet) với thông tin được truyền tải là mã hoá của âm thanh. Công nghệ này bản chất là dựa trên chuyển mạch gói, nhằm thay thế công nghệ truyền thoại cũ dùng chuyển mạch kênh.
Nó nén (ghép) nhiều kênh thoại trên một đường truyền tín hiệu, và những tín hiệu này được truyền qua mạng Internet, vì thế có cung cấp các cuộc gọi miễn phí hoặc giúp làm giảm chi phí cuộc gọi đến mức thấp nhất. Ứng dụng của công nghệ VoIP: VoIP cho phép tạo cuộc gọi dùng kết nối băng thông rộng thay vì sử dụng đường dây điện thoại tương tự (analog). Nhiều dịch vụ VoIP có thể chỉ cho phép thực hiện các cuộc gọi dùng cùng loại dịch vụ, tuy nhiên cũng có những dịch vụ cho phép sử dụng như số nội bộ, đường dài, di động, quốc tế. Nguyên tắc hoạt động của VoIP bao gồm việc số hóa tín hiệu tiếng nói (voice), thực hiện việc nén tín hiệu số, chia nhỏ các gói nếu cần và truyển các gói tin này qua 9 mạng IP, khi tới nơi nhận các gói tin này được ráp lại theo đúng thứ tự của bản tin, giải mã tín hiệu tương tự và phục hồi lại tiếng nói ban đầu.
Để thực hiện việc này, điện thoại IP, thường được tích hợp sẵn các nghi thức báo hiệu chuẩn như SIP hay H.323, kết nối tới một tổng đài IP (IP PBX) của doanh nghiệp hay của nhà cung cấp dịch vụ. Điện thoại IP có thể là điện thoại thông thường (chỉ khác là thay vì nối với mạng điện thoại qua đường dây giao tiếp RJ11 thì điện thoại IP nối trực tiếp vào mạng LAN qua cáp Ethernet, giao tiếp RJ45) hoặc phần mềm thoại (soft-phone) cài trên máy tính. Ưu điểm của công nghệ VoIP : Ưu điểm đầu tiên là gọi miễn phí nếu sử dụng cùng dịch vụ, cùng thiết bị VoIP hoặc cùng tổng đài IP PBX ( hay còn gọi là gọi nội mạng). Hoặc nếu không thì giá thành cũng rẻ đáng kể so với sử dụng cách gọi truyền thống PSTN (Public Switched Telephone Network) Giải pháp VoIP đơn giản cho việc quản lý bảo trì hệ thống và tiết kiệm chi phí.
Nếu bạn không sử dụng VoIP cho cuộc gọi thoại, mà bạn quay lại sử dụng gọi thoại truyền thống là PSTN. Trên một PSTN line, tiền sẽ được tính thông qua thời gian. Bạn sẽ phải trả tiền cho mỗi phút mà bạn thực hiện cuộc gọi. Cuộc gọi truyền thống là rất tốn kém.
Từ khi sử dụng VOIP, chi phí cuộc gọi của bạn trả thông qua thuê bao internet hang tháng thông qua ISP. Tuy nhiên bạn cần truy cập Internet băng thông rộng cùng với tốc độ ổn định và đủ mạnh. Tích hợp những ứng dụng thoại (voice), truyền hình (video), âm thanh (audio), dữ liệu (data) vào cùng một cơ sở hạ tầng chung. Điều này sẽ giúp tiết kiệm chi phí so với khi đầu tư nhiều mạng riêng lẻ.
Khả năng mở rộng: Các tổng đài cũ thường là những hệ thống kín, rất khó để thêm vào đó những tính năng trong khi các các thiết bị trong mạng internet thường dễ dàng nâng cấp, mở rộng và dễ thêm vào những tính năng mới. 10 Khả năng multimedia: Trong quá trình thực hiện một cuộc gọi thì người sử dụng có thể vừa nói chuyện vừa sử dụng các dịch vụ khác như truyền file, chia sẻ dữ liệu hay xem hình ảnh của người nói chuyện ở đầu kia. Thực hiện cuộc gọi nhiều hơn 2 người: Trong một cuộc gọi thông thường thì chỉ thực hiện cuộc gọi giữa hai người có thể nói chuyện với nhau trong một thời gian thực. Nhưng với VoIP, bạn có thể thiết lập một cuộc gọi nói chuyện, hội nghị giữa một nhóm trong thời gian thực.
VoIP sẽ nén dữ liệu gói tin trong khi truyền, và do đó nhiều dữ liệu có thể được truyền trên một kênh truyền. Kết quả, nhiều cuộc gọi có thể thực hiện được trong một lúc trên một điện thoại IP Phone. VoIP còn có thể sử dụng nhiều lịch vụ khác qua mạng như sử dụng Fax qua mạng IP, hỗ trợ trả lời tự động, hiện thị số gọi đến, hiện thị cuộc gọi bị nhỡ, chuyển cuộc gọi, hiển thị tên người gọi,lập danh sách các số điện thoại….không hề thua kém các dịch vụ của PSTN. Nói đến VoIP thì còn rất nhiều lợi ích và một lợi ích nữa đó là việc sử dụng đồng thời cả điện thoại bàn thông thường và điện thoại IP (có dây hoặc không dây) qua hệ thống mạng LAN (Local Area Network) và PSTN (Public Switched Transport Network) sẽ đảm bảo thông tin liên lạc của doanh nghiệp không bị gián đoạn khi xảy ra sự cố.
Nhược điểm của công nghệ VoIP: Bên cạnh những ưu điểm nổi trội, VoIP còn có một số nhược điểm cơ bản sau: Bạn phải có tốc độ đường truyền truy cập internet tốc độ cao để có được nhiều dịch vụ điện thoại VoIP.Bạn phải mua hoặc có được một thiết bị gọi là bộ định tuyến VoIP (VoIP adapter), nó được biết như một ATA (Analog Teminal Adapter) hoặc có được một card VoIP cho hệ thống để sử dụng. Các dịch vụ khẩn cấp như cấp cứu 114, cứu hỏa 115, cảnh sát 113 không được hỗ trợ sẵn. Trong trường hợp khẩn cấp, nếu bạn không thể nói rõ thì các cơ quan chức năng sẽ không xác định rõ được vị trí của bạn. 11 Chất lượng dịch vụ chưa cao: Các mạng số liệu vốn dĩ không phải xây dựng với mục đích truyền thoại thời gian thực, vì vậy khi truyền thoại qua mạng số liệu cho chất lượng cuộc gọi không đảm bảo được trong trường hợp mạng xảy ra tắc nghẽn hoặc có độ trễ lớn.
Tính thời gian thực của tín hiệu thoại đòi hỏi chất lượng truyền dữ liệu cao và ổn định. Một yếu tố làm giảm chất lượng thoại nữa là kỹ thuật nén để tiết kiệm đường truyền. Nếu nén xuống dung lượng càng thấp thì kỹ thuật nén càng phức tạp, cho chất lượng không cao và đặc biệt là thời gian xử lỹ sẽ lâu, gây trễ.