Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Giải pháp hoàn thiện kế hoạch phát triển mạng lưới viễn thông tại Tỉnh Hà Giang giai đoạn 2003 - 2005" được thực hiện bởi sinh viên Hoàng Văn Ga dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Ngọc Huyền tại Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Đề tài tập trung vào bài toán quản trị kế hoạch mạng lưới viễn thông tại một địa bàn vùng cao đặc biệt khó khăn.
Về bối cảnh thực tiễn, Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc tái lập cuối năm 1991 sau 16 năm sáp nhập với tỉnh Tuyên Quang. Tỉnh có đường biên giới dài 274 km giáp hai tỉnh Vân Nam và Quảng Đông (Trung Quốc) đi qua 34 xã; phía Nam giáp Tuyên Quang; phía Tây giáp Yên Bái và Lào Cai; phía Đông/Đông Bắc giáp Cao Bằng. Toàn tỉnh gồm 11 đơn vị hành chính (Thị xã Hà Giang và 10 huyện: Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Mê, Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Hoàng Su Phì, Xín Mần) với diện tích tự nhiên 7.884 $\text{km}^2$, dân số trên 634.000 người thuộc 22 dân tộc (số liệu thống kê năm 2002). Địa hình núi non hiểm trở, giao thông cách trở, kinh tế chậm phát triển và cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn khiến Hà Giang thuộc nhóm địa phương khó khăn nhất cả nước.
Trước năm 1994, mạng lưới viễn thông Hà Giang chủ yếu dùng tổng đài từ thạch và 540 km đường dây trần trải dài từ trung tâm tỉnh đến các huyện vùng cao, thường xuyên đứt liên lạc do thiên tai lũ quét, dung lượng thấp và chi phí duy tu tốn kém. Thực hiện chiến lược tăng tốc hiện đại hóa của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Bưu điện tỉnh Hà Giang đã từng bước số hóa mạng lưới. Tuy nhiên, việc hoạch định và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển mạng lưới vẫn còn nhiều bất cập trước sự gia tăng nhu cầu thông tin kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đặc thù chi phối công tác kế hoạch hóa tại Bưu điện tỉnh Hà Giang.
- Đánh giá toàn diện thực trạng công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển mạng lưới viễn thông giai đoạn 1993 - 2002, chỉ rõ những kết quả đạt được, các dự án đầu tư trọng điểm và những hạn chế về năng lực chuyển mạch, truyền dẫn, mạng cáp ngoại vi.
- Đề xuất hệ thống mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp hoàn thiện kế hoạch phát triển mạng lưới viễn thông tỉnh Hà Giang giai đoạn 2003 - 2005 cho từng phân hệ kỹ thuật cụ thể.
Đối tượng nghiên cứu là công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển mạng lưới viễn thông tại Bưu điện tỉnh Hà Giang. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao quát toàn bộ địa bàn tỉnh Hà Giang gồm mạng viễn thông thị xã và các huyện, xã trực thuộc. Phạm vi thời gian tập trung phân tích thực trạng mạng lưới từ khi tái lập (1993) đến năm 2002, và xây dựng phương án kế hoạch phát triển giai đoạn 2003 - 2005.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận vấn đề dưới góc độ quản trị sản xuất kinh doanh dịch vụ viễn thông trong doanh nghiệp nhà nước. Tác giả vận dụng các quy định quản lý chuyên ngành và hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ nền tảng:
- Quyết định số 249/TTg ngày 24/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) theo mô hình Tổng công ty 91 (Quyết định số 91/TTg ngày 07/3/1994).
- Quyết định số 491/TCCB.LĐ ngày 14/9/1996 của Tổng cục Bưu điện thành lập doanh nghiệp nhà nước Bưu điện tỉnh Hà Giang; Điều lệ tổ chức và hoạt động ban hành theo Quyết định số 256/QĐ-TCCB/HĐQT ngày 25/9/1996 của Hội đồng Quản trị VNPT.
- Định hướng chuyển dịch công nghệ mạng viễn thông quốc gia từ công nghệ tương tự (Analog) sang mạng kỹ thuật số (IDN) và định hướng phát triển mạng thế hệ sau (NGN - Next Generation Network).
Về mặt lý thuyết kinh tế kỹ thuật ngành, tác giả phân tích sâu 4 đặc thù cơ bản chi phối hoạt động hoạch định kế hoạch viễn thông:
- Tính chất dịch vụ vô hình: Sản phẩm viễn thông là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, không phải hàng hóa vật chất cụ thể, không tồn kho được; chi phí vật liệu chiếm tỷ trọng nhỏ trong khi chi phí lao động sống và thiết bị công nghệ chiếm tỷ trọng lớn.
- Quá trình sản xuất mang tính dây chuyền liên hoàn: Quá trình truyền đưa tin tức diễn ra qua nhiều công đoạn (giai đoạn đi, giai đoạn đến, giai đoạn quá giang) với sự tham gia của nhiều đơn vị trong và ngoài tỉnh, đòi hỏi sự chỉ huy thống nhất, kỷ luật kỹ thuật cao và thực hiện cơ chế hạch toán tập trung toàn mạng lưới VNPT.
- Sản xuất gắn liền và đồng thời với tiêu thụ: Thời điểm tiêu dùng trùng với thời điểm sản xuất; chất lượng dịch vụ tác động trực tiếp tức thì đến khách hàng, đòi hỏi độ tin cậy kỹ thuật và tính sẵn sàng cao.
- Tải trọng không đồng đều theo không gian và thời gian: Nhu cầu liên lạc biến động mạnh theo giờ trong ngày, ngày trong tuần, mùa vụ và theo địa bàn; hệ thống thiết bị và lao động phải duy trì chế độ thường trực 24/24 giờ, dẫn đến hệ số sử dụng năng lực bình quân thường thấp hơn các ngành sản xuất vật chất.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng gồm:
- Phương pháp thống kê mô tả và phân tích tổng hợp: Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo kỹ thuật, bảng cân đối tài sản và hồ sơ quyết định đầu tư xây dựng cơ bản của Bưu điện tỉnh Hà Giang và VNPT giai đoạn 1993 - 2002.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đánh giá sự biến động về năng lực dung lượng, số lượng trạm, mật độ máy điện thoại và hiệu suất sử dụng thiết bị qua các mốc thời gian.
- Phương pháp dự báo kế hoạch: Kết hợp phương pháp ngoại suy xu thế và cân đối nhu cầu - năng lực để tính toán các chỉ tiêu phát triển thuê bao, dung lượng chuyển mạch và nhu cầu truyền dẫn giai đoạn 2003 - 2005.
Nguồn dữ liệu nghiên cứu là các văn bản phê duyệt kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản, hồ sơ thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình của Tổng cục Bưu điện, các quyết định giao vốn và giao chỉ tiêu của VNPT, cùng số liệu quản lý nội bộ của các phòng chức năng thuộc Bưu điện tỉnh Hà Giang.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Giới thiệu Bưu điện tỉnh Hà Giang
Chương I tập trung làm rõ lịch sử hình thành, mô hình bộ máy quản trị và những kết quả ban đầu sau 10 năm tái lập Bưu điện tỉnh.
Bưu điện tỉnh Hà Giang chính thức hoạt động từ ngày 01/01/1993 theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, đảm nhận chức năng vừa tổ chức sản xuất kinh doanh vừa quản lý nhà nước về bưu chính - viễn thông trên địa bàn tỉnh. Đến tháng 9/1996, theo Quyết định 491/TCCB.LĐ, đơn vị chuyển đổi thành doanh nghiệp nhà nước thành viên hạch toán phụ thuộc VNPT. Đơn vị được xếp hạng doanh nghiệp hạng II; đến ngày 31/12/2002 có tổng nguồn vốn kinh doanh là 38.484 triệu đồng và tổng số lao động là 656 người.
Mô hình tổ chức bộ máy quản trị của Bưu điện tỉnh bao gồm:
- Bộ máy quản lý tham mưu: Giám đốc Bưu điện tỉnh (đại diện pháp nhân cao nhất), các Phó Giám đốc, Kế toán trưởng phụ trách Phòng Kế toán thống kê tài chính, cùng 4 phòng chuyên môn và 1 tổ chuyên viên gồm: Phòng Tổ chức cán bộ - lao động, Phòng Kế hoạch và đầu tư xây dựng cơ bản, Phòng Bưu chính - viễn thông tin học, Phòng Hành chính quản trị và Tổ tổng hợp.
- Bộ máy sản xuất trực thuộc: 11 đơn vị cơ sở gồm Công ty Điện báo điện thoại (quản lý Trung tâm bảo dưỡng xử lý ứng cứu thông tin, Trung tâm chăm sóc khách hàng, các đài và trạm viễn thông), 1 Bưu điện thị xã và 10 Bưu điện huyện.
Về thành tựu chủ yếu đến năm 2002: Bưu điện tỉnh đã hoàn thành việc xóa bỏ tổng đài từ thạch và đường dây trần; bước đầu thiết lập mạng truyền dẫn vi ba số và đưa vào sử dụng tuyến cáp quang liên tỉnh Hà Nội - Tuyên Quang - Hà Giang phục vụ 7 trạm dọc Quốc lộ 2 và thị xã. Toàn tỉnh xây dựng được 16 tổng đài điện tử số với 125/178 xã có máy điện thoại, đưa sóng di động phủ trung tâm thị xã, các huyện dọc Quốc lộ 2, cửa khẩu Thanh Thủy và 1 huyện núi đá.
Chương II: Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển mạng lưới viễn thông Hà Giang
Chương II là phần trọng tâm phản ánh thực trạng kỹ thuật và quá trình tổ chức triển khai các dự án đầu tư phát triển mạng lưới giai đoạn 1993 - 2002.
1. Hiện trạng mạng viễn thông Hà Giang năm 2003
Tính đến hết kế hoạch 2001 - 2002, mạng chuyển mạch toàn tỉnh có tổng dung lượng lắp đặt là 14.452 số (lines), dung lượng sử dụng là 10.204 số, đạt hiệu suất sử dụng 76%. Mạng lưới bao gồm 16 tổng đài, trong đó có 01 trạm Host, 07 trạm vệ tinh (RLU) và 08 tổng đài độc lập (NEAXS-61XS, RAX, STAREX-IMS).
| TT |
Địa điểm lắp đặt |
Loại thiết bị |
Dung lượng (số) |
| 1 |
Bưu điện thị xã |
NEAXS-61E (Trạm Host) |
7.500 |
| 2 |
Bưu điện Bắc Quang |
RLU (Vệ tinh) |
1.356 |
| 3 |
Bưu điện Bắc Mê |
RLU (Vệ tinh) |
512 |
| 4 |
Bưu điện Vị Xuyên |
RLU (Vệ tinh) |
1.268 |
| 5 |
Bưu điện Đồng Văn |
NEAXS-61XS (Độc lập) |
512 |
| 6 |
Bưu điện Yên Minh |
NEAXS-61XS (Độc lập) |
512 |
| 7 |
Bưu điện Quản Bạ |
RLU (Vệ tinh) |
512 |
| 8 |
Bưu điện Mèo Vạc |
NEAXS-61XS (Độc lập) |
1.024 |
| 9 |
Bưu điện Hoàng Su Phì |
NEAXS-61XS (Độc lập) |
1.024 |
| 10 |
Bưu điện Xín Mần |
NEAXS-61XS (Độc lập) |
1.024 |
| 11 |
Bưu điện Thanh Thủy |
RAX |
184 |
| 12 |
Bưu cục Hùng An |
STAREX-IMS |
336 |
| 13 |
Bưu cục Tân Quang |
RAX |
336 |
| 14 |
Bưu cục Phó Bảng |
RAX |
184 |
| 15 |
Bưu cục Ngọc Đường |
RLU (Vệ tinh) |
1.024 |
| 16 |
Bưu cục Đồng Yên |
RAX |
184 |
| Tổng cộng |
|
|
14.452 |
Về mạng truyền dẫn: Mạng nội tỉnh sử dụng các thiết bị vi ba số DM1000, CTR-210, AWA1504 kết nối từ trung tâm thị xã đi các huyện. Hệ thống có 15 trạm vi ba chuyển tiếp đặt trên các đỉnh núi cao để phục vụ 14 trạm chuyển mạch huyện và khu vực với dung lượng mỗi hướng chỉ đạt 1 luồng E1 (2 Mb/s). Một số tuyến cáp quang cục bộ được triển khai giải quyết điểm nghẽn, điển hình là tuyến cáp sợi quang từ trạm vi ba Tù Sán (Đồng Văn) đi Bưu điện huyện Mèo Vạc dung lượng 4E1 (tốc độ 155 Mb/s, thiết bị SDH AM1 Plus của Lucent Technologies) đưa vào hoạt động năm 1998, và tuyến cáp quang dọc Quốc lộ 2 đưa vào khai thác năm 2002.
Về mạng ngoại vi: Hệ thống cống bể cáp ngầm chỉ mới được đầu tư tại trung tâm Thị xã Hà Giang và các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên. Hầu hết các huyện còn lại và khu vực nông thôn đều sử dụng cáp treo. Do khoảng cách từ trạm viễn thông đến các xã rất xa, mạng cáp phải kéo dài từ 10 đến 20 km, buộc phải sử dụng cáp cỡ lớn đường kính 0,65 mm đến 0,9 mm (thay vì cỡ chuẩn 0,5 mm), làm suy giảm chất lượng truyền dẫn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ đứt cáp do sạt lở, bão lũ.
2. Công tác tổ chức thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm
Trong giai đoạn 1994 - 1998, Bưu điện tỉnh đã tổ chức thực hiện 4 dự án phát triển mạng thông tin trọng điểm theo phê duyệt của Tổng cục Bưu điện và VNPT:
| Tên dự án |
Quyết định phê duyệt đầu tư |
Nguồn vốn |
Quy mô và hạng mục chính |
| Mạng thông tin 5 huyện phía Bắc |
QĐ 1562/KTKH (06/12/1995) Tổng cục Bưu điện |
Ngân sách nhà nước (khoảng 14 tỷ đồng: gồm vốn nội tệ và ngoại tệ USD, AUD) |
Trang bị tổng đài RAX-256 cho 5 huyện phía Bắc; lắp đặt tuyến vi ba nối về thị xã; dựng 19 cột anten (có 01 cột tự đứng 50m); xây dựng nhà trạm và trạm Ngọc Đường. |
| Mạng thông tin các huyện, thị trấn phía Tây |
QĐ 940/ĐT-PT (14/5/1996) VNPT (Ủy quyền Bưu điện tỉnh làm chủ đầu tư) |
Vốn vay, ngân sách và vốn xí nghiệp bổ sung (khoảng 9 tỷ đồng: gồm nội tệ và 228.044 USD) |
Phục vụ huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần. Lắp 3 tổng đài RAX-256; tuyến truyền dẫn vi ba AWA 1504; lắp máy, cột anten, điện lưới và kiến trúc. |
| Mạng thông tin tổng đài 256 số huyện Bắc Mê |
QĐ 3174/QĐ-ĐTPT (11/9/1996) VNPT |
Vốn vay, ngân sách và vốn tự bổ sung (trên 1 tỷ đồng: 823 triệu VND và 18.690 AUD) |
Lắp đặt 01 tổng đài 256 số, hệ thống nguồn điện lưới và tuyến truyền dẫn vi ba 2 Mb/s từ trạm Làng Luông về trạm Ngọc Đường. |
| Mạng thông tin khu vực Hùng An, Vĩnh Tuy, Tân Quang, Việt Lâm |
QĐ 206/QĐ-ĐTPT (29/7/1997) VNPT |
Vốn vay, ngân sách và vốn tự bổ sung (trên 6 tỷ đồng: gồm nội tệ và 195.850 USD) |
Trang bị tổng đài RAX-128; lắp máy vi ba; kéo tuyến cáp gốc (dự toán 855 triệu đồng); dựng cột anten và xây dựng nhà trạm kiến trúc tại 4 điểm. |
3. Đánh giá ưu - nhược điểm của công tác kế hoạch và mạng lưới
- Ưu điểm: Bưu điện tỉnh đã xóa bỏ hoàn toàn mạng từ thạch lạc hậu, đưa công nghệ số về tất cả các trung tâm huyện lị; hoàn thành vượt mức chỉ tiêu phát triển thuê bao; mạng lưới các huyện nối thẳng về trung tâm tỉnh, giúp nâng cao chất lượng chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương.
- Hạn chế và tồn tại:
- Phần lớn tổng đài huyện và khu vực là các tổng đài độc lập dung lượng nhỏ, kết nối qua nhiều trạm trung gian làm giảm độ an toàn mạng (dễ xảy ra sự cố dây chuyền) và gây khó khăn lớn cho việc quản lý kỹ thuật, thu cước tập trung.
- Dung lượng truyền dẫn vi ba thấp (chủ yếu 1 luồng E1 = 2 Mb/s) không đáp ứng được lưu lượng giờ cao điểm, gây nghẽn mạch thường xuyên; chưa thể cung cấp các dịch vụ truyền số liệu băng rộng, báo hiệu liên kênh hay dịch vụ đa phương tiện.
- Mạng ngoại vi chủ yếu là cáp treo tạm bợ, bán kính phục vụ quá rộng (lên tới 20 km), phụ thuộc đường cột giao thông, tỷ lệ suy hao cao, tuổi thọ thấp và dễ hư hỏng do thời tiết.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện kế hoạch phát triển mạng lưới viễn thông tại Bưu điện Hà Giang
Xuất phát từ các tồn tại kỹ thuật và dự báo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương, Chương III đề xuất kế hoạch phát triển mạng lưới giai đoạn 2003 - 2005.
1. Mục tiêu kế hoạch đến năm 2005
- Tổng số máy điện thoại toàn mạng đạt 25.061 máy (trong đó máy cố định chiếm trên 19.000 máy).
- Nâng mật độ máy điện thoại đạt 3 máy/100 dân.
- Phổ cập dịch vụ viễn thông đạt 100% số xã có máy điện thoại (178/178 xã, tăng từ mốc 125 xã năm 2002).
2. Các giải pháp kỹ thuật cụ thể giai đoạn 2004 - 2005
Phân hệ chuyển mạch:
- Trạm Host trung tâm Thị xã Hà Giang: Mở rộng tổng đài NEAXS-61 thêm 7.500 số, nâng tổng dung lượng trạm trung tâm lên 15.000 số.
- Bưu điện huyện Bắc Quang: Mở rộng tổng đài RLU-1024 số thêm 512 số trong năm 2004 (đạt 1.536 số) và tiếp tục nâng cấp thêm 1.572 số để đạt quy mô 3.072 số.
- Bưu điện huyện Quang Bình (huyện mới thành lập đầu năm 2004): Xây dựng mới 01 tổng đài NEAXS-61 dung lượng 1.024 số.
- Mở rộng tổng đài RLU tại khu vực Bằng Hành (Bắc Quang) với dung lượng 512 số.
- Nâng cấp đồng loạt dung lượng các trạm huyện: Mở rộng tổng đài Vị Xuyên thêm 512 số (đạt 2.048 số); mở rộng tổng đài Yên Minh thêm 512 số (đạt 1.024 số); mở rộng tổng đài Đồng Văn thêm 512 số (đạt 1.024 số).
- Thay thế tổng đài RAX-184 tại Phó Bảng bằng tổng đài STAREX-256 số (điều chuyển thiết bị từ Vị Xuyên lên).
- Đầu tư mới 07 bộ tập trung thuê bao dung lượng 128 số cho các cụm dân cư vùng xa: xã Minh Ngọc (Bắc Mê), xã Lũng Phìn (Đồng Văn), xã Mậu Duệ (Yên Minh), xã Nà Trì (Xín Mần), Km 26 Xín Mần, xã Quyết Tiến (Quản Bạ); và 01 bộ tập trung thuê bao dung lượng 64 số tại Điểm Bưu điện văn hóa xã Minh Tân (huyện Vị Xuyên).
Phân hệ truyền dẫn và thông tin di động:
- Giữ nguyên cấu hình các tuyến vi ba nội tỉnh hiện hữu để giải quyết lưu lượng cơ bản; kiến nghị VNPT thay thế thiết bị có dung lượng lớn hơn cho các chặng xung yếu thường nghẽn mạch: tuyến Ngô Khê - Chiến Phố (Hoàng Su Phì) và trạm Cổng Trời (Quản Bạ).
- Đề nghị VNPT đầu tư lắp đặt trạm thu phát sóng di động (BTS) và xây dựng trạm, cột anten cao 20m cho 6 huyện vùng cao còn lại: Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Mê, Hoàng Su Phì, Xín Mần.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống dữ liệu thực tế và mang lại các kết quả cụ thể:
- Hệ thống hóa hiện trạng mạng lưới: Xác lập bức tranh chi tiết về cơ sở hạ tầng viễn thông tỉnh Hà Giang năm 2002 - 2003 với 16 trạm tổng đài kỹ thuật số, tổng dung lượng lắp đặt 14.452 lines, dung lượng khai thác thực tế 10.204 lines (hiệu suất 76%), 15 trạm vi ba chuyển tiếp và mạng lưới phủ tới 125/178 xã.
- Đánh giá thực thi dự án đầu tư: Khái quát toàn bộ tiến trình triển khai 4 dự án viễn thông lớn của tỉnh giai đoạn 1994 - 1998 (phía Bắc, phía Tây, Bắc Mê, khu vực Hùng An - Vĩnh Tuy - Tân Quang - Việt Lâm) kèm theo các quyết định pháp lý, cơ cấu nguồn vốn và thông số trang thiết bị kỹ thuật (NEAXS, RAX, STAREX, RLU, viba AWA, DM1000).
- Đề xuất phương án kế hoạch khả thi: Xây dựng danh mục giải pháp mở rộng dung lượng cho từng địa bàn cụ thể trong giai đoạn 2003 - 2005 (nâng Host thị xã lên 15.000 số, mở rộng Bắc Quang lên 3.072 số, xây mới tổng đài 1.024 số tại huyện mới Quang Bình, bổ sung 8 bộ tập trung thuê bao cho các xã đặc biệt khó khăn), gắn trực tiếp với mục tiêu đạt mật độ 3 máy/100 dân và 100% xã có điện thoại.
- Đóng góp quản trị: Tác giả chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa đặc thù sản phẩm dịch vụ vô hình, tính chất dây chuyền và sự phân bổ tải trọng không đồng đều với phương thức tổ chức hạch toán tập trung của ngành Bưu điện, từ đó làm rõ sự cần thiết phải có cơ chế điều tiết vốn từ Tổng công ty đối với các tỉnh miền núi nghèo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của tài liệu: Do giới hạn về số liệu tiếp cận tại thời điểm nghiên cứu (năm 2002 - 2003) và đặc điểm dữ liệu nguồn tại đơn vị, một số số liệu tài chính tổng hợp (doanh thu năm 2002) chưa được phản ánh đầy đủ trong văn bản. Các giải pháp quy hoạch truyền dẫn chủ yếu mang tính tình thế, duy trì hệ thống vi ba số cũ và mở rộng mạng cáp treo do khó khăn về nguồn vốn đầu tư cáp quang.
- Hướng phát triển đề tài: Nghiên cứu việc tích hợp mạng viễn thông Hà Giang vào kiến trúc mạng thế hệ sau (NGN) theo định hướng của VNPT; xây dựng giải pháp thay thế dần các tuyến vi ba chuyển tiếp vùng cao bằng cáp quang băng rộng kết hợp vòng Ring bảo vệ; nghiên cứu ứng dụng công nghệ điện thoại qua vệ tinh (VSAT) và vô tuyến nội hạt (CDMA/WLL) để tối ưu hóa chi phí phát triển mạng ngoại vi nông thôn miền núi.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu học thuật và thực tiễn hữu ích:
- Đối với sinh viên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp, Kinh tế bưu chính - viễn thông: Là nghiên cứu điển hình về phương pháp lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và quản trị dự án đầu tư mạng lưới tại một doanh nghiệp nhà nước đặc thù.
- Đối với cán bộ quản lý ngành viễn thông tại các tỉnh miền núi, biên giới: Cung cấp tư liệu chi tiết về kinh nghiệm xử lý bài toán kỹ thuật - kinh tế khi số hóa mạng lưới trong điều kiện địa hình chia cắt phức tạp, dân cư thưa thớt và nguồn lực đầu tư hạn hẹp.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng biểu thống kê cấu hình thiết bị chuyển mạch (Biểu 1), hồ sơ pháp lý - quy mô 4 dự án đầu tư trọng điểm (Chương II) và phương án quy hoạch mở rộng tổng đài, bộ tập trung thuê bao cho các cụm xã vùng sâu, vùng xa (Chương III).
Câu hỏi thường gặp
1. Tính đến cuối năm 2002, Bưu điện tỉnh Hà Giang có quy mô nguồn vốn, lao động và cơ cấu tổ chức như thế nào?
Đến ngày 31/12/2002, Bưu điện tỉnh Hà Giang là doanh nghiệp nhà nước hạng II thuộc VNPT, có tổng nguồn vốn kinh doanh là 38.484 triệu đồng và tổng số lao động là 656 người. Bộ máy quản trị gồm 5 phòng chức năng và 1 tổ chuyên viên; bộ máy sản xuất gồm 11 đơn vị trực thuộc (Công ty Điện báo điện thoại, Bưu điện Thị xã Hà Giang và 10 Bưu điện huyện).
2. Năng lực mạng chuyển mạch của Bưu điện tỉnh Hà Giang năm 2003 đạt bao nhiêu số và hiệu suất sử dụng ra sao?
Mạng chuyển mạch có tổng dung lượng lắp đặt là 14.452 số, dung lượng thực tế đang sử dụng là 10.204 số, đạt hiệu suất khai thác 76%. Mạng gồm 16 tổng đài (01 trạm Host NEAXS-61E 7.500 số tại thị xã, 07 trạm vệ tinh RLU và 08 tổng đài độc lập NEAXS-61XS, RAX, STAREX).
3. Mạng truyền dẫn liên huyện của tỉnh Hà Giang trong giai đoạn này gặp khó khăn kỹ thuật cốt lõi nào?
Do địa hình núi non hiểm trở, để truyền dẫn từ thị xã đến các huyện, Bưu điện tỉnh phải xây dựng tới 15 trạm vi ba chuyển tiếp đặt trên núi cao. Tuy nhiên, dung lượng mỗi hướng chỉ đạt 1 luồng E1 (2 Mb/s), dẫn đến tình trạng thường xuyên nghẽn mạch trong giờ cao điểm và không thể triển khai các dịch vụ truyền số liệu đa phương tiện.
4. Kế hoạch phát triển mạng giai đoạn 2003 - 2005 đặt ra mục tiêu gì về mật độ máy và phổ cập điện thoại xã?
Mục tiêu đến năm 2005 là: toàn tỉnh đạt tổng số 25.061 máy điện thoại, nâng mật độ máy lên 3 máy/100 dân, và đạt tỷ lệ 100% số xã có máy điện thoại (phổ cập toàn bộ 178/178 xã, so với 125 xã năm 2002).
5. Khóa luận đề xuất giải pháp kỹ thuật cụ thể nào cho Bưu điện huyện mới Quang Bình và trạm Host trung tâm?
Tại huyện mới thành lập Quang Bình (đầu năm 2004), tác giả đề xuất đầu tư xây dựng mới 01 tổng đài kỹ thuật số NEAXS-61 dung lượng 1.024 số. Tại trạm Host trung tâm Thị xã Hà Giang, tác giả đề xuất mở rộng thêm 7.500 số cho tổng đài NEAXS-61E để đạt tổng dung lượng 15.000 số.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hoàng Văn Ga đã phản ánh chân thực bức tranh kinh tế - kỹ thuật của Bưu điện tỉnh Hà Giang trong giai đoạn chuyển mình từ công nghệ tương tự sang công nghệ số. Nghiên cứu đã hệ thống hóa toàn diện các dự án hiện đại hóa mạng lưới giai đoạn 1993 - 2002, đồng thời chỉ rõ những nút thắt về nghẽn mạch vi ba và hạn chế của mạng cáp treo vùng cao. Hệ thống giải pháp mở rộng dung lượng chuyển mạch, lắp đặt bộ tập trung thuê bao và kiến nghị trạm BTS di động giai đoạn 2003 - 2005 là bản kế hoạch có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác phát triển viễn thông tại địa bàn miền núi khó khăn.