phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra - đánh giá và quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá trong dạy học ở trường THCS. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra - đánh giá và quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá trong dạy học ở trường THCS Nguyễn Bá Ngọc - Hải Phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THCS Nguyễn Bá Ngọc - Hải Phòng. LUAN VAN CHAT LUONG download4 : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, trên thế giới đã có cuộc cách mạng về KT - ĐG với những thay đổi căn bản về triết lí, quan điểm, PP và các hoạt động cụ thể, coi người học và quá trình học tập là trung tâm của toàn bộ hoạt động GD. Trong hơn 3 thập kỉ qua, KT - ĐG đối với GD phổ thông quốc tế đã có những bước tiến lớn cả về lí luận và thực tiễn, thể hiện rõ xu hướng KT - ĐG hướng đến ĐG năng lực HS tức là “ĐG khả năng tiềm ẩn của HS dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc HS đã thực hiện thành công các sản phẩm đó” nhằm giúp GV có thông tin về kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động DH, giúp HS điều chỉnh PP học tập. PP ĐG được sử dụng đa dạng, sáng tạo và linh hoạt.
Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh ĐG quá trình bằng các hình thức, PP ĐG mới như: quan sát, phỏng vấn, hồ sơ, dự án, HS tự ĐG, ĐG kết quả học tập thông qua dự án. Ở Hoa Kì, để KT - ĐG mức độ tiếp nhận và cảm thụ văn học về một tác phẩm nào đó, GV yêu cầu HS hoạt động nhóm để phân tích nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và có thể lập dự án tham quan bảo tàng của nhà văn. HS được tự do trao đổi, tìm hiểu thực tế, vận dụng nhiều kiến thức liên môn, hợp tác nghiên cứu và có thể đưa ra nhiều nhận định sáng tạo. Ở Canada, sau mỗi học kì, cha mẹ HS nhận được bản nhận xét với 9 nội dung: (1) Kĩ năng làm việc độc lập; (2) Năng lực sáng tạo; (3) Mức độ hoàn thành các bài tập; (4) Năng lực sử dụng công nghệ thông tin; (5) Khả năng hợp tác với những người xung quanh; (6) Khả năng giải quyết những xung đột của cá nhân; (7) Mức độ tham gia các hoạt động tập thể của lớp; (8) Khả năng giải quyết vấn đề; (9) Khả năng biết đặt mục tiêu để hoàn thiện trong tương lai.
Trong từng mục trên, GV chủ nhiệm nhận xét cả điểm mạnh, hạn chế của HS đã đạt được trong quá trình học tập, rèn luyện ở trường, có nhận xét để HS khắc phục; Một số trường tiểu học ở Hoa Kì, trong cuộc họp phụ huynh đầu năm, GV LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com chủ nhiệm giới thiệu chương trình học tập trong năm, mục tiêu cuối năm, cách trao đổi giữa bố mẹ và GV, cách chấm điểm bẳng nhận xét. Ngoài ĐG trên lớp, hầu hết các quốc gia đều ĐG HS thông qua các kì thi như: tuyển sinh đầu cấp học, thi tốt nghiệp các cấp và tuyển sinh đại học. Các quốc gia đều tăng cường ĐG cấp quốc gia ở GD bắt buộc (như SAT1 ở Singapore, SAT 2 và SCAT3 ở Hàn Quốc, SAT, AIMS ở Hoa Kì…) và chủ yếu vào các năng lực cơ bản là đọc, viết, làm toán… Các nước tạo ra một số công cụ KT - ĐG hữu hiệu như: Nghiên cứu về xu thế trong Toán học và Khoa học quốc tế; về sự tiến bộ về năng lực đọc hiểu quốc tế; cuộc thi và ĐG quốc tế đối với trường học; chương trình ĐG HS quốc tế; chương trình chuẩn so sánh điện tử trong GD ở Australia, đã triển khai ĐG các trường phổ thông quốc tế; ICAS triển khai bởi UNSW Global Pty Limited được sử dụng trên 60 quốc gia, cung cấp các bài KT - ĐG hàng năm về các môn Toán, Khoa học, Tiếng Anh, viết và kĩ năng máy tính, cung cấp thông tin chi tiết về mỗi HS, lớp và trường tham gia; PISA là hệ thống ĐG quốc tế tập trung vào khả năng đọc, kĩ năng toán và khoa học của HS ở lứa tuổi 15, được thực hiện bởi Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), thực hiện ĐG 3 năm một lần. Trong đánh giá PISA, đề thi chú trọng đến các tình huống trong thực tiễn gần gũi với kiến thức đã học ở phổ thông, giúp cho các quốc gia tham gia có cơ hội nhìn nhận một cách khá toàn diện về những “kĩ năng cơ bản”, “năng lực cá nhân” mà HS quốc gia họ đạt được, để từ đó đưa ra chính sách mới nhằm phát triển GD một cách bền vững.
Ở Việt Nam Trong những năm qua, khoa học về KT - ĐG của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực: Bộ GD&ĐT đã chú trọng đến KT - ĐG, khẳng định KT - ĐG là khâu rất quan trọng trong quá trình DH, đã chỉ đạo hoạt động KT - ĐG ở cấp Trung học cơ sở, trung học phổ thông thông qua hệ thống văn bản: Quyết định 40/2006/QĐ-BGD&ĐT) ngày 05/10/2006 ban hành Quy chế ĐG, xếp loại HS THCS, THPT; Thông tư số 51/2008/TT-BGD&ĐT ngày 15/9/2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định 40; Thông tư số 58/2011/TT-BGD&ĐT ngày 12/12/2011 ban hành Quy định ĐG và xếp loại HS THCS, THPT; Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH ngày 30/12/2010 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn soạn đề KT và một số quyết định, thông tư liên quan đến tuyển sinh THCS, THPT, thi tốt LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com nghiệp THPT…; Một số cải tiến quan trọng trong KT - ĐG như: bỏ thi tốt nghiệp tiểu học (năm 2004), bỏ thi tốt nghiệp THCS (năm 2006) và cải tiến hình thức thi vào lớp 10 THPT, thi tuyển sinh ĐH đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực. Từ năm 1998 đến 2000, Viện Khoa học GD Việt Nam (NIES) đã thực hiện một nghiên cứu về kết quả học tập của HS lớp 3, lớp 5 thuộc 14 trường Tiểu học và THCS thuộc 5 tỉnh, thành phố. Bộ GD&ĐT đã tiến hành nhiều nghiên cứu về chất lượng GD, hiệu quả GD và các yếu tố tác động đến kết quả học tập ở cấp tiểu học và THCS, nhằm đề xuất các chính sách GD ở cấp quốc gia và tỉnh. Việt Nam đã tham gia ĐG PISA từ năm 2012.
Cùng với đổi mới chương trình, sách giáo khoa, PP giảng dạy, việc đổi mới KT - ĐG được khẳng định là khâu quan trọng trong quá trình DH. Nhiều cải tiến theo xu hướng khoa học KT - ĐG của thế giới đã được triển khai tại Việt Nam và mang lại kết quả bước đầu. Để nâng cao chất lượng DH ở trường THCS Nguyễn Bá Ngọc - Hải Phòng, đã có một số đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực: Xây dựng và phát triển đội ngũ GV; Rèn kỹ năng sống cho HS THCS.Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về QL hoạt động KT- ĐG trong DH. Do đó, đề tài: "Quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá trong dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh ở trƣờng THCS Nguyễn Bá Ngọc - Hải Phòng" thực sự là vấn đề hết sức cần thiết trong công tác GD của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý nhà trường 1. Quản lý Khoa học QL xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nó ra đời một cách tất yếu khách quan do nhu cầu của mọi tổ chức, mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và mọi thời đại. Khoa học QL gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, nó mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại.
QL không chỉ là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, mà còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế để đạt được mục đích. Vì thế người ta có thể tiếp cận khái niệm QL theo nhiều cách khác nhau.Mác, “quản lý” là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động, “quản lý” có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua QL. LUAN VAN CHAT LUONG download7 : add luanvanchat@agmail.com Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quản độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7, tr.
Thuật ngữ “quản lý” ngày nay đã trở nên khá phổ biến, tuy nhiên có khá nhiều quan điểm khác nhau phụ thuộc vào cách nhìn chủ quan và tính mục đích của hoạt động. Có thể kể đến một số khái niệm: Theo F.Taylo (1856 - 1915) “QL là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [13, tr. Theo Henri Fayol (1841 - 1925) xuất phát từ các loại hình QL cho rằng: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và KT” [13, tr. Còn các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của QL” lại cho rằng “QL là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của các nhân hướng vào mục tiêu tổ chức - Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất” [14, tr.
Mary Parker Follett (Mỹ) thì khẳng định: “QL là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác” [14, tr.