Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY HOAT DONG GIÁO DỤC THAM MY CHO TRE MAU GIAO TRUONG MAM NON 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những vẫn đề nghiên cứu của nước ngoài Trong công trình nghiên cứu *Phương pháp dạy trẻ mẫu giáo vẽ, lắp ghép và cắt dán” tác giả N.
Vetlughina, ngoài việc giới thiệu các phương pháp, biện pháp dạy trẻ vẽ, lắp ghép và cắt dán, tác giả còn chú trọng đến mảng nghệ thuật dân gian với nội dung dạy trang trí. Tác giả đã chỉ cho giáo viên cách khai thác những bức vẽ trang trí dân gian Nga để dạy trẻ vẽ (dẫn theo Đỗ Thị Minh Liên-Ngô Thị Thủy). Xaculinna (1989) trong tác phẩm “Phương pháp dạy trẻ hoạt động tạo hình và chấp ghép” (dẫn theo Đỗ Thị Minh Liên-Ngô Thị Thủy) rất chú trọng việc đưa những sản phẩm tao hình,cụ thể là các nguồn tranh ảnh, hiện vật vào môi trường hoạt động của trẻ trong các loại hình và các hình thức tổ chức tạo hình khác nhau. Đồng thời chỉ ra cho cô giáo mằm non những phương.
pháp, thủ thuật hướng dẫn trẻ làm quen với các sản phẩm thẩm mỹ tạo hình. Kôtxakopxkaia (1979) nghiên cứu về *Dạy nặn (rong trường mẫu giáo”, thấy rằng trẻ rất hứng thú với sản phâm nghệ thuật nặn. Đây cũng là một trong những dạng hoạt động tạo hình được trẻ mằm non yêu thích. Tác giả chỉ ra vai trò của nó đối với sự phát triển khiếu thẩm mỹ, mở rộng tầm hiểu biết làm phong phú trí tưởng tượng của trẻ và là một trong những biện pháp giáo dục thẩm mỹ.
Nhóm tác giả Xaculina N.A (1989) n cứu về “Những vấn đề về Giáo dục thẩm mỹ ở mẫu giáo”, giáo dục thâm mỹ cho trẻ mằm non có thể sử dụng nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau như: âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, sân khấu điện ảnh, văn học. Trong đó, văn 8 học được coi là một trong những phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non hiệu quả nhất vì: Văn học giúp phát triển ở trẻ khả năng tr giác thâm mỹ, trên cơ sở đó hình thành xúc cảm, tình cảm, khái niệm thẩm mỹ, tạo ra mọi điều kiện thuận lợi nhất để phát triển khả năng sáng tạo nghệ thuật ở trẻ và xây dựng được những cơ sở đầu đầu tiên của thị ếu thấm mỹ. Giáo dục thẩm mỹ (GDTM) có sức mạnh vô cùng to lớn, hãy mở rộng cánh cửa để dẫn dắt trẻ đi vào thế giới bao la của cái đẹp và sự sáng tạo. Nam 1983, Howard Gardner công bố học thuyết đa trí tuệ (MI, dù vậy ông vẫn tiếp tục chỉnh sửa và bổ sung lý thuyết của mình qua nhiều năm.
Ong nhận thấy những lý tưởng truyền thống về trí thông minh chưa được hoàn chỉnh, thay vào đó ông đã đề xuất nhiều loại trí thông minh khác nhau: Trí thông mình ngôn ngữ (có khả năng về ngôn ngữ có thể tranh biện, thuyết phục, làm trò, hay hướng dẫn hiệu quả thông qua sử dụng lời nói). Trí thông mình logic ~ toán học (khả năng đối với những con số và sự logic, khái niệm hóa mối quan hệ giữa các hành động hoặc biểu tượng một cách logic). Trí thông minh vận động thể chất (khả năng vận động thân thể. với tài năng trong việc điều khiển các hoạt động về thân thể, khiến các hoạt động của than thé va các thao tác cằm nắm một cách khéo léo).
Trí thông minh hình ảnh ~ không gian (khả năng suy nghĩ bằng hình ảnh, biểu tượng và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo các góc độ khác nhau của thế giới không gian trực quan) Trí thông mình âm nhạc( khả năng cảm nhận, thưởng thức và tạo ra các tiết tấu nhịp điệu, khả năng nghe tốt và hát theo giai điệu). Trí thông mình tương tác cá nhân (khả năng hiểu ý định, động lực và mong muốn của mọi người. Khả năng này cho phép cá nhân làm việc tốt với người khác). 9 Trí thông minh nội tâm (năng lực tự nhận thức về bản thân, một người có tư duy này có thể dễ dàng tiếp cận và nhìn rõ được những cảm xúc của bản thân mình) Trí thông mình thiên nhiên (khả năng nhận biết và đánh giá mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên.
Nhà thiên văn học, nhà sinh vật học và động vật học là những ví dụ thuộc loại này). Không phải tất cả những câu hỏi về mặt khoa học của đa trí thông minh đều được trả lời nhưng việc hiểu và áp dụng hợp lí học thuyết này có thể vô cùng hữu ích khi áp dụng trong việc giảng dạy. Những vẫn đề nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ trước đã có một số tác phẩm mang màu sắc của nghệ thuật tạo hình. Tuy nhiên trong thời gian đầu không thấy đề cập rõ đến khái ni ido dục thẩm mỹ, nên khi nghiên cứu nội dung giáo dục thẩm mỹ được gắn với giáo dục nghệ thuật (giáo dục âm nhạc và giáo dục tạo hình).
Những năm 60 - 70 một số tài liệu dịch, biên soạn để giảng. dạy nội bộ, giáo dục thâm mỹ được dùng với thuật ngữ “mỹ dục”. Mỹ dục được quan niệm là “giáo dục về cái đẹp”, là công tác iáo dục thẩm mỹ”, bồi dưỡng. năng lực hiểu biết chính xác và cảm nhận đầy đủ cái đẹp của nghệ thuật, cái dep của đời sống xã hội, cái đẹp của thiên nhiên và của tập quán sinh hoạt hàng ngày.
Những năm 80 đến nay, nội hàm của khái niệm giáo dục thâm mỹ được xem xét trên nhiều bình diện khác nhau, xuất phát từ hai khái niệm gốc: Khái niệm giáo. dục và khái niệm thâm mỹ. Quá trình hình thành và phát triển mặt thâm mỹ ở con người có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau: Góc độ xã hội, góc độ. phát triển nhân cách, phát triển thắm mỹ của nhân cách.
Từ thập kỷ 90 giáo dục thâm mỹ đã có một hệ thống đẻ tài nghiên cứu cả từ góc độ lý luận, thực tiễn về giáo dục thẩm mỹ, bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu ứng dụng triển khai, kết quả nghiên cứu đã góp phần hình thành hệ thống giáo dục chung về giáo dục thẳm mỹ ở nước ta. 10 Nguyễn Ánh Tuyết (1992) đã đưa ra những kết luận trong việc hướng dẫn trẻ cảm thụ vẻ đẹp của những tác phẩm tạo hình. Theo bà thi “Tigy tré ham thích hoạt động tạo hình, nhưng chưa phải là đã có ý thức đầy đủ trong việc sáng tạo ra cái đẹp và cũng chưa biết phát hiện cái đẹp trong sản phẩm tạo hình một cách đầy đủ. Do đó trẻ em cần được hướng dẫn hoạt động tạo hình ngay từ lúc còn bé, mà việc đầu tiên là tạo điều kiện để trẻ được xem nhiều tác phẩm tạo hình có giá trị” Tác giả Đỗ Xuân Hà khi nghiên cứu về vấn đẻ giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non bằng nghệ thuật tạo hình đã khăng định vai trò của các tác phẩm nghệ thuật tạo hình và chú trọng tới nghệ thuật dân tộc: “Các tác phẩm nghệ thuật có thể đa vào vốn kinh nghiệm cá nhân của con người ngày nay cái kho tàng to lớn, bắt tận những tình cảm tốt đẹp của tô tiên và bằng cách đó, nghệ thuật sẽ nhân đạo.
hoá con người, làm cho tình cảm của họ phát triển tắt đẹp hon, tri tug của họ thong minh hon”. Tác giả Đỗ Xuân Hà cũng đưa ra các nguyên tắc giáo dục thẩm my bằng nghệ thuật tạo hình, trong đó ông đề cao nguyên tắc: “Di te van hod - nghệ thuật dân tộc tới văn hoá - nghệ thuật của toàn nhân loại:" (Đỗ Xuân Hà (1997). Tác giả Lê Thanh Thuỷ trong các công trình nghiên cứu của mình đã luôn quan tâm tới việc cho trẻ làm quen với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình, đặc biệt là các tác phẩm nghệ thuật trang trí dân gian, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống. Tác giả đã chỉ ra khả năng to lớn của các tác phẩm nghệ thuật tạo hình trong việc phát triển tình cảm, ý thức xã hội và nhân cách của trẻ em.
Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những yêu cầu trong việc lựa chọn tác phâm. giới thiệu với trẻ và những điểm cần lưu ý về hình thức và phương pháp cho trẻ làm quen với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Tác giả Phan Thị Việt Hoa trong đề : “Một số biện pháp bôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo thông qua. hoạt động tạo hình” đã coi việc cho trẻ tiếp xúc với nghệ thuật tạo hình là một trong những biện pháp hữu hiệu để bồi dưỡng cảm xúc thẳm mỹ ở trẻ.
" Trong những năm gần đây đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề giáo dục thắm mỹ cho trẻ như: Tác giả Đàm Thị Hoài Dung nghiên cứu đề i cho trẻ làm quen với các bố cục hoa văn dân tộc thông qua hoạt động xếp. dán tranh trang tri; Tác giả Ngô Minh Tâm nghiên cứu *iệp pháp bồi dưỡng cho giáo sinh Trung cấp sư phạm Mâm non khả năng sử dụng sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thông trong tô chức môi trường hoạt động tạo hình cho trẻ”; Tác giả Kiều Thị Hồng Thủy nghiên cứu * lột số biện pháp giáo dục cho trẻ mẫu giáo Š~ 6 mỗi làm quen với nghệ thuật tạo hình truyén thống ở tỉnh Hoà Bink”. 'Các nghiên cứu trên đã nêu lên được vai trò của sản phẩm tạo hình đối với sự phát triển thâm mỹ ở trẻ em và đưa ra các biện pháp cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Mỗi nghiên cứu đều có cách tiếp cận riêng, tuy nhiên các đề tài mới chỉ đề cấp đến các phương pháp dạy trẻ hoạt động tạo hình như: vẽ, nặn, xé, dán.
hay một số biện pháp bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo hình. Như vậy, việc quản lý giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo trong các trường Mầm non nói chung và các trường mam non trên địa bàn thị xã Bình Minh, tinh Vinh Long nói riêng đang được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm. Việc nghiên cứu để đưa ra các biện pháp quản lý giáo dục thm mỹ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mam non có ý nghĩa vô cùng quan trong. Xuất phát từ những nghiên cứu trên, có thể khẳng định vấn đề “Quản Jy giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mdm non thi xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long” là một vẫn đề mới, cấp thiết cần được quan tâm nghiên cứu đề góp.
phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non 1.