CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP PHẬT HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, con người sử dụng nhiều loại quy phạm khác nhau như: quy phạm đạo đức, quy phạm pháp luật, quy phạm tôn giáo, tín ngưỡng, quy phạm thẩm mỹ…. Trong đó quy phạm pháp luật đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Theo học thuyết Mác-Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp.
Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp nắm quyền đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp thành ý chí nhà nước. Ý chí đó được thể hiện cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm cho pháp luật được thực hiện. Mục đích của pháp luật trước hết là để điều chỉnh các quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp cầm quyền. Khi nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trật tự của một xã hội được xây dựng dựa trên pháp luật thì trong xã hội đó mỗi công dân phải được trang bị đầy đủ những kiến thức pháp luật cần thiết để suy nghĩ và hành động theo pháp luật.
Giáo dục là con đường chính và nhanh nhất để mang tri thức đến cho con người, cung cấp cho họ sự hiểu biết về các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, khoa học kỹ thuật… để họ phát triển toàn diện, thích ứng với mọi lĩnh vực trong cuộc sống, chuẩn bị cho hành trang bước vào đời để mỗi người có thể làm việc trong 7 các ngành nghề của xã hội, giúp họ nuôi sống bản thân, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tri thức pháp luật muốn truyền tải đến mọi người một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất tất yếu phải thông qua con đường giáo dục. Do vậy, công tác giáo dục cho công dân nói chung, cho học viên tại các trường Trung cấp Phật học nói riêng là việc làm rất quan trọng kể cả trước mắt cũng như lâu dài. Ngày 9 tháng 12 năm 2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị số 32/CT-TW “Về tăng cường sự Lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân” trong đó nhấn mạnh “Công tác phổ biến giáo dục pháp luật cần phải được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật và xác định rõ, phổ biến giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ I đã nêu: “Phát huy dân chủ, giữ vững kỹ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”. Tại kỳ họp thứ 3 ngày 20 tháng 6 năm 2012 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá III đã thông qua luật phổ biến, giáo dục pháp luật và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. Ngày 29 tháng 3 năm 2013 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2013 của ngành giáo dục. Trong thời gian qua, vấn đề giáo dục pháp luật và công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên, học viên đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục đặc biệt quan tâm, nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu đã có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này như: Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Khắc Hùng (2008) nghiên cứu “các biện pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” [14]; Luận văn thạc sĩ của tác giả Huỳnh Bọng (2012) với đề tài: “Biện pháp quản 8 lý công tác GDPL cho sinh viên đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay”; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Huỳnh Ngọc Thanh (2012) với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn pháp luật ở trường Cao đẳng kinh tế - kỹ thuật Quảng Nam”; Tác giả Trần Hồng Quang (2016) nghiên cứu “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh các trường trung học phổ thông thành phố Quảng Ngãi”; Tác giả Vũ Thuý Hường (2019) với nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật theo định hướng phát triển năng lực cho sinh viên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội”; Tác giả Trần Nguyễn Ca Sa (2021) đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học Tài Chính – Kế toán”. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã đề cập đến những khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật trong nhà trường nói riêng cho từng loại đối tượng, thời giểm khác nhau. Cho đến nay, việc tiếp tục nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về cơ sở lý luận, bản chất, đặc trưng, nội dung, hình thức giáo dục pháp luật, nhất là việc khái quát thực tiễn giáo dục pháp luật trong tình hình mới để từ đó có sự đổi mới, hoàn thiện công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường cho phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước vẫn là một việc làm cần thiết. Đối với học viên tại các trường Trung cấp Phật học, cùng với những kiến thức về văn hoá, kiến thức pháp luật mà người học lãnh hội được trong quá trình học tập ở nhà Trường sẽ là một trong những nền tảng cơ bản để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện, đào tạo ra thế hệ Tăng tài phụng sự cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trong giáo dục pháp luật việc cung cấp cho các tăng, ni sinh. Do đó “Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học viên tại các trường Trung cấp Phật học khu vực Tây Nam Bộ” từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học và đầy đủ. Vì vậy, đề tài của luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố từ trước đến nay. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục chính trị, tư tưởng và giáo dục đạo đức. Theo quan điểm này, thì chỉ cần tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng hay đạo đức là mọi chủ thể trong xã hội có ý thức pháp luật, có sự tự giác, tôn trọng và tuân theo pháp luật. Nghĩa là nếu tiến hành giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức tốt thì trên thực tế có thể đạt được sự tôn trọng pháp luật của công dân. Pháp luật và đạo đức cũng là những khái niệm tuy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng là những khái niệm độc lập với nhau.
Pháp luật và đạo đức là hai hình thái của ý thức xã hội nhưng đều có các chức năng là nhận thức, điều chỉnh, giáo dục. Do vậy, GDPL và giáo dục đạo đức là những khái niệm độc lập có mối quan hệ chặt chẽ với nhau chứ không là một. GDPL hình thành, củng cố và phát triển ở đối tượng giáo dục những quan niệm về cái thiện, cái ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằng, về hạnh phúc, về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người với con người, giữa các nhân và xã hội. Đồng nhất GDPL với tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Trong hoạt động khoa học và cuộc sống hàng ngày chúng ta vẫn thường sử dụng các khái niệm tuyên truyền pháp luật, phổ biến pháp luật, giải thích pháp luật, GDPL. Nhìn nhận chung, mọi người đều cho rằng đó là các dạng hoạt động nhằm hướng đến việc hình thành và nâng cao văn hoá pháp luật, ý thức pháp luật trong xã hội. Tuy vậy, đó là những khái niệm không hoàn toàn đồng nhất với nhau. “Tuyên truyền là việc giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo” [15]; là "đem chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước phổ biến và giải thích cho đông đảo quần chúng biết và động viên mọi người thực hiện” [16].
Từ đó có thể hiểu khái quát về tuyển truyền pháp luật là việc công bố, giới thiệu rộng rãi nội dung của pháp luật cho mọi người biết, động viên, thuyết phục mọi người thực hiện theo đúng. “Phổ biến là làm cho 10 đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó”; hay là “làm cho mọi người đều biết đến”. Giống như tuyên truyền, phổ biến cũng có đối tượng tác động rộng rãi. Tuy nhiên, phổ biến có điểm khác với tuyên truyền ở chỗ tính động viên, tính thuyết phục của phổ biến không cao như tuyên truyền.
Như vậy, có thể hiểu phổ biến pháp luật là làm cho mọi người biết về pháp luật. “Giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người ta những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội” [15]. Giống như tuyên truyền, phổ biến, GDPL cũng nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết, tình cảm, nhưng phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, có kế hoạch hơn, đối tượng được xác định cụ thể hơn, mục đích rõ ràng hơn. Từ đó 3 khái niệm có vẻ tương đồng có thể hiểu khái quát GDPL là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho đối tượng được giáo dục những phẩm chất đạo đức và tri thức pháp luật cần thiết để đối tượng được giáo dục có khả năng tham gia mọi mặt đời sống xã hội.
Có lẽ vì vậy mà các bài viết giáo dục pháp lý ở nước ta cho thấy các tác giả có cách hiểu khá thống nhất về khái niệm GDPL, đó là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục tác động đến đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên, nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với đòi hỏi của pháp luật hiện hành.