Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Dạy học theo quan điểm PTNL đã được quan tâm và tiến hành ở nhiều nền GD trên thế giới, bởi nó không chỉ chú ý tích cực hoá HS về HĐ trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn HĐ trí tuệ với HĐ thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV- HS theo hướng cộng tác, nhằm PTNL xã hội cho người học.
Nội dung DH theo quan điểm PTNL không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực NL: NL chuyên môn, NL xã hội và NL nhân cách [11]. Sự hình thành và phát triển của xu hướng DH tiếp cận NL trong GD nói chung, DH nói riêng được hình thành, phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970 và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New Zealand, Đan Mạch, xứ Wales. Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận NL là cách thức có ảnh hưởng nhiều nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng GD và quá trình DH, là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” và là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với những vấn đề mà các nhà trường, cá nhân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ XXI” (P. Đặc trưng và ưu thế của dạy học tiếp cận NL.Rodger: “Tiếp cận năng lực trong DH tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì HS dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được” [18] Ngoài ra có nhiều công trình nghiên cứu DH theo hướng PTNL người học, đó là các công trình nghiên cứu của Paprock, P.
Côrôtiatiev, nhóm tác giả A. Rất nhiều vấn đề và góc độ DH theo hướng PTNL người học nói chung, hướng PTNL trong DH Toán nói riêng đã được các tác giả nghiên cứu. Mỗi công trình đều có những điểm mạnh, điểm yếu và những mục đích riêng. Nhưng điểm chung nhất của các nghiên cứu là cùng tập trung nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của DH theo tiếp cận PTNL người học để nâng cao chất lượng GD đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Xu hướng DH theo hướng PTNL ở nước ta nói chung, dạy học PTNL trong môn Toán nói riêng, đã có những nghiên cứu bước đầu cho thấy tính đầy đủ và hệ thống. Các quan điểm đều chỉ ra rằng, để QL dạy học nói chung và DH theo quan điểm PTNL của người học kết quả như mong muốn nói riêng thì trong bất kì hoàn cảnh nào, với sự hỗ trợ gì thì phương pháp DH hiệu quả đòi hỏi người GV phải hiểu tác động của việc DH tới HS của mình. Tổng kết lại, các quan điểm DH định hướng PTNL đều tập trung chủ yếu vào các yếu tố như: GV tổ chức HĐ nhằm thúc đẩy việc học tập tích cực, chủ động của HS; Tạo một môi trường hỗ trợ học tập (gắn với bối cảnh thực); Khuyến khích HS phản ánh tư tưởng và hành động, khuyến khích giao tiếp; Tăng cường trách nhiệm học tập của người học; Tạo điều kiện thuận lợi cho học tập, chia sẻ, trao đổi, tranh luận. Kết nối để học tập; Cung cấp đầy đủ cơ hội để người học tìm tòi, khám phá trải nghiệm và sáng tạo; Giảng dạy như quá trình tìm tòi của người học.
Theo tác giả Bùi Minh Hiền và các cộng sự đã nghiên cứu về QL dạy học trong mối quan hệ của QL nhà trường là nhiệm vụ cơ bản của QL trường học “QL các trường và QL các cơ quan trong hệ thống GD có vai trò rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục” [16]. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ chuyên ngành QLGD về vấn đề QL dạy học môn toán định hướng PTNL cho học sinh như: Đỗ Cao Thượng nghiên cứu về đề tài: “Quản lý HĐDH môn Toán đáp ứng yêu cầu PTNL cho học sinh dân tộc-miền núi tại trường THPT Trần Can tỉnh Điện Biên”, tác giả đã bước đầu nghiên cứu về các HĐDH môn toán theo hướng mới trên địa bàn khó khăn và đề ra 05 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả DH môn Toán nhằm đáp ứng yêu cầu PTNL cho học sinh dân tộc-miền núi tại trường THPT Trần Can tỉnh Điện Biên [30]. Nguyễn Thị Vân Anh (2019) nghiên cứu “Thực trạng QL đổi mới phương pháp DH ớ các trường THCS quận Hà Đông theo định hướng phát triển năng lực HS”. Tác giả đã đề cập những yêu cầu mới về DH môn Toán hiện nay, đánh giá thực trạng QL đổi mới phương pháp DH.
trên cơ sở thực tiễn giúp các trường THCS đề xuất biện pháp QL đổi mới phương pháp DH môn Toán theo định hướng PTNL học sinh [1]. Đặng Thị Thùy Linh (2020) nghiên cứu về đề tài: “QL dạy học môn Toán theo định hướng PTNL học sinh ở các trường THCS thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang”. Tác giả đã khảo sát thực trạng DH môn toán ở các trường THCS thành phố Hà Giang, 7 tỉnh Hà Giang và cho rằng: Công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch DH môn Toán đã được Hiệu trưởng các trường THCS quan tâm triển khai thực hiện tuy nhiên chưa đồng bộ còn một số nội dung cần được tăng cường chỉ đạo để thực hiện dạy học môn Toán theo định hướng PTNL hiệu quả hơn như chỉ đạo tổ chuyên môn và GV dạy Toán học thực hiện phân tích chương trình và đề xuất kế hoạch DH theo chủ đề; Chỉ đạo tổ chuyên môn cử GV dạy bài học/chủ đề minh họa theo định hướng PTNL học sinh và một số nội dung khác. Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế.
Kiểm tra, đánh giá kết quả DH môn Toán còn nhiều phương pháp tích cực chưa được sử dụng [23]. Các công trình trên trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều mặt của HĐDH và quản lý HĐDH môn Toán như: QL dạy học môn Toán theo định hướng PTNL học sinh; QL dạy học môn Toán theo định hướng đổi mới… Chưa có công trình nào nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường THCS vùng đặc biệt khó khăn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Do đó tác giả chọn vấn đề trên để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý, quản lý nhà trường 1. Quản lý Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý dẫn đến có nhiều cách định nghĩa khác nhau: Theo Các Mác thì: “Bất cứ nơi nào có lao động, nơi đó có QL. Tất cả mọi lao động trong xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vân động của toàn bộ cơ thể khác nhau với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8].
Theo quan điểm của Harold Koontz thì: “Quản lý là một HĐ thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) về thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì QL là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì QL là một khoa học” [12]. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [34]. Từ các quan niệm trên của các tác giả, chúng tôi hiểu: QL là sự tác động liên tục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể QL đến đối tượng QL bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên 8 tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp mọi nỗ lực của cá nhân để đưa tổ chức tiến đến mục tiêu đã xây dựng.
Quản lý nhà trường Nhà trường là một tổ chức GD cơ sở, là nơi trực tiếp làm công tác GD&ĐT, nó nằm trong môi trường xã hội và có tác động qua lại với môi trường đó. Luật Giáo dục 2019 quy định: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục” [25]. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “QL nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng, Nhà nước trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu QL, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và đối với từng HS” [15]. Mục đích của QL nhà trường là đưa nhà tường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng GD.
Công tác QL trong nhà trường bao gồm QL các HĐ diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các HĐ ngoài xã hội. QL nhà trường như là QL một hệ thống bao gồm các thành tố: thành tố tinh thần, thành tố vật chất, thành tố con người. Từ các quan niệm về QL nhà trường của các tác giả, chúng tôi hiểu khái niệm QL nhà trường như sau: là những tác động hợp quy luật của chủ thể QL nhà trường mà người đứng đầu là Hiệu trưởng đến khách thể QL nhà trường là GV, nhân viên và HS… nhằm đưa ra các hoạt động GD và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu phát triển GD. Hoạt động dạy học; hoạt động dạy học môn Toán tại các trường THCS 1.