CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP ĐÁP ỨNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG TRUNG HỌC 1. Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đáp ứng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học là vấn đề mới ít được nghiên cứu. Tuy nhiên cũng đã có một số tác giả nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Các nghiên cứu đó tập trung chủ yếu vào đối tượng học sinh THPT như: Đinh Xuân Huy với nghiên cứu "Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng trong trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Lai Châu" đã khẳng định vai trò quan trọng của việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đối với việc nâng cao chất lượng của trường Phổ thông dân tộc nội trú.
Công trình đã xây dựng được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của người Hiệu trưởng trong trường dân tộc nội trú như nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GV, cải tiến công tác quản lý, phối hợp các lực lượng tham gia, hướng dẫn hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm xây dựng và hình thành ở HS những năng lực và phẩm chất tốt”[25]. Sách “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Nguyễn Dục Quang (Chủ biên), Ngô Quang Quế – (giáo trình dùng cho các trường Cao đẳng sư phạm) đã đề cập đến những nội dung cơ bản xung quanh những vấn đề của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, cung cấp cho giáo sinh những kiến thức làm cơ sở cho công tác thực tập sư phạm và công tác chủ nhiệm lớp sau này [31]. Công trình nghiên cứu "Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Phổ thông Hermann Gmeiner " của Đỗ Văn Lợi đã khẳng định: hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh. Nghiên cứu đồng thời đã chỉ ra được các biện pháp quản lý như: nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, xây dựng đội ngũ quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giỏi về chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm cao; nâng cao ý thức trách nhiệm của 15 z đội ngũ cán sự lớp, toàn thể học sinh về việc tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Giang Thị Khuyên với nghiên cứu "Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường tiểu học miền núi huyện Mai Châu - Sơn La", đã chỉ ra một số biện pháp tổ chức hoạt động GDNGLL cho học sinh tiểu học có hiệu quả như: bồi dưỡng nhận thức, kỹ năng hướng dẫn, tổ chức quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho đội ngũ cán bộ, giáo viên; tăng cường công tác thi đua khen thưởng; chăm lo xây dựng, quản lý CSVC; kiểm tra đôn đốc việc thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; phối hợp các lực lượng tham gia tổ chức. Tác giả Hà Nhật Thăng (Chủ biên) – sách giáo viên Hoạt động GDNGLL 6,7,8,9 cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung, chương trình, phương tiện, trang thiết bị cho việc tổ chức hoạt động GDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức hoạt động GDNGLL của học sinh đồng thời hướng dẫn thực hiện các chủ điểm… [33]. Như vậy, đã có không ít các tác giả nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng về quản lý hoạt động GDNGLL đáp ứng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học thì chưa được đề cập có hệ thống, cũng như chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này ở trường THCS Nam Hồng (Đông Anh – Hà Nội). Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Một số khái niệm liên quan đến hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 1. Hoạt động Họạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối tượng để tạo ra sản phẩm, nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và nhóm xã hội. Hoạt động có những đặc điểm sau: Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng. Con người là chủ thể của hoạt động.
Hoạt động được thực hiện trong những điều kiện lịch sử- xã hội nhất định. Hoạt động có sử dụng phương tiện, công cụ để tác động vào đối tượng. Hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục là thuật ngữ dùng để chỉ mọi hoạt động mà nhà trường tổ chức hoặc phối hợp tổ chức nhằm mục đích giáo dục học sinh theo yêu cầu của các 16 z mặt giáo dục: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ và giáo dục lao động hướng nghiệp 1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Nhiều nhà chuyên môn cho rằng công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường được coi là công tác giáo dục ngoại khoá.
Công tác này bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khoá, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực của trẻ em, làm thức tỉnh thiên hướng và hứng thú của học sinh đối với một hoạt động nào đó; đó là một hình thức giải trí của học sinh và là cơ sở để tổ chức việc thực tập về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này. Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hoá. Hoạt động GDNGLL ở trường THCS giúp các em học sinh có cơ hội tham gia các hoạt động thực tiễn. Học sinh khi được hoà mình vào đời sống xã hội sẽ có thêm những hiểu biết, học thêm được kinh nghiệm giao tiếp.
để làm tăng thêm vốn sống của mình, để rèn luyện mình trở thành những người có nhân cách. Hoạt động GDNGLL là bộ phận cấu thành quan trọng của chương trình giáo dục bậc phổ thông, do nhà trường tổ chức và quản lý với sự tham gia của các lực lượng xã hội. Đây là hoạt động giáo dục cơ bản được tổ chức thực hiện theo kế hoạch của trường, thống nhất với hoạt động dạy và học nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề quản lý 1.
Quản lý Quản lý là một hiện tượng có thuộc tính lịch sử, nó là nội tại của quá trình lao động. Quản lý phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. Vì vậy, lý luận về quản lý được hình thành và phát triển qua các thời kì với các lý luận về chính trị, kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, người ta mới chú ý đến chất khoa học của quá trình quản lý và dần hình thành các lý thuyết quản lý.
Khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học định nghĩa một cách khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị. Có thể điểm qua một số quan điểm đó như sau: F.Taylor (1856 -1915) là người được mệnh danh là cha đẻ của lý luận quản lý, đã cho rằng: “Quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [14, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế phát triển”. Vậy quản lý = quản + lý.
Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren. Vậy, quản lý = ổn định + phát triển [1]. Nghiên cứu về khoa học quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận động các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”[9].
Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ : “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lí mong muốn”[22, tr37]. Tác giả Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”[11,tr54]. Như vậy, các định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt và góc độ tiếp cận, nhưng tất cả đều đề cập đến bản chất chung của quản lý, đó là: + Quản lý bao giờ cũng là một tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định; + Quản lý là sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý; + Quản lý xét cho đến cùng bao giờ cũng là quản lý con người.
+ Quản lý là tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan. Trong khái niệm “quản lý” bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý. Chủ thể quản lý là một cá nhân, một nhóm người hay tổ chức tạo ra những tác động quản lý. Khách thể quản lý là đối tượng tiếp nhận các tác động quản lý.
Khách thể quản lý có thể là người, trả lời cho câu hỏi “quản lí ai?”; là vật, trả lời cho câu hỏi “ quản lí cái gì?”; hoặc sự việc, trả lời cho câu hỏi “Quản lý việc gì?”. Còn mục tiêu quản lý là cái đích đặt ra cho các đối tượng và chủ thể quản lý, là căn cứ cho chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý. Nói một cách 18 z tổng quát thì quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.