Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài * Những nghiên cứu về xâm hại tình dục trẻ em Trong những năm gần đây, vấn đề XHTDTE được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới. Các công trình đó đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, độ tuổi, địa điểm, thủ phạm, nạn nhân của các vụ xâm hại tình dục. Có thể kể đến một số hướng nghiên cứu sau: - Nghiên cứu xâm hại tình dục dưới góc độ sinh học Những học giả theo thuyết sinh học thường quan tâm đến tác động của những cơ quan trong cơ thể khi giải thích về hành vi tình dục như lượng hooc - môn hay quá trình hình thành các nhiễm sắc thể trong cơ thể.
Các kích thích tố nam thúc đẩy bản năng tình dục, khoái cảm tình dục và điều khiển tình dục, nhận thức, tình cảm và tính cách của nam giới. Vì vậy, các nhà nghiên cứu về hành vi tình dục lệch chuẩn thường liên hệ hành vi của nam giới với mức độ kích thích tố nam của nam giới. Khi nam giới đến tuổi dậy thì, lượng kích thích tố sinh dục nam tăng lên. Vì động cơ tình dục sẽ tăng mạnh trong giai đoạn này, người ta tin rằng có mối tương quan giữa lượng kích thích tố sinh dục nam và động cơ tình dục.
Lượng kích thích tố sinh dục nam được coi là yếu tố sinh học gây tác động đến hành vi tình dục bình thường hoặc bất thường của một cá nhân. Các nhà khoa học Đức đã mổ xẻ não những người mắc chứng ấu dâm để tìm câu trả lời thỏa đáng. Các nhà nghiên cứu ở bộ phận y học tình dục của Trung tâm Y khoa Trường Đại học Schleswig-Holstein (UKSH) tại thành phố Kiel (Kiel là thủ phủ bang Schleswig-Holstein của Đức) đã công bố những phát hiện mới nhất về bộ não của những người mắc chứng ấu dâm với kỹ thuật cộng 7 hưởng từ (MRT). Theo bác sĩ tâm lý trị liệu Jorge Ponseti, những nhà khoa học Pháp, Canada và các nước Bắc Âu từng nghiên cứu về chứng rối loạn tình dục này.
Thế nhưng, những công trình nghiên cứu các chức năng của não bộ còn quá ít. Các nhà khoa học Đức đã có những nỗ lực theo hướng này nhằm giải mã bí mật của chứng ấu dâm. Bác sĩ Ponseti nhận xét: “Với MRT, các nhà khoa học có điều kiện tối ưu để tìm hiểu sâu hoạt động và kết cấu của bộ não những người mắc chứng ấu dâm. Điều kỳ diệu nhất là MRT cho phép chúng ta biết vùng não nào hoạt động mạnh và vùng nào hoạt động kém”.
Y học xếp ấu dâm là một chứng rối loạn về tình dục đối với trẻ vị thành niên. Theo hệ thống xếp hạng mới của khoa bệnh học tâm thần Mỹ, chỉ những người có ham muốn tình dục lâu dài và liên tục đối với trẻ em mới được coi là người mắc bệnh ấu dâm. Trái lại, theo bác sĩ Ponseti, nếu có ham muốn tình dục lệch lạc đó nhưng không thực hiện hành vi ấu dâm thì gọi là thiên hướng tình dục. “Kỹ thuật MRT cho phép chúng ta biết ai mắc chứng ấu dâm nhưng thật không may, nó không thể giải thích tại sao con người mắc bệnh đó” - bác sĩ Ponseti kết luận.[6] - Quan điểm của thuyết hành vi về xâm hại tình dục Lý thuyết hành vi giải thích rằng hành vi tình dục lệch chuẩn là kết quả của một quá trình học hỏi.
Lý thuyết về hệ thống môi trường cho thấy hành vi con người chịu tác động từ sự tương tác với các hệ thống và môi trường xã hội. Để được xã hội chấp nhận như một thành viên, cá nhân phải hành xử theo mong đợi của xã hội khi cá nhân tuân thủ các chuẩn mực của xã hội đề ra. Tiến trình xã hội hóa là tiến trình cá nhân học hỏi những chuẩn mực được xã hội quy định, và những khuôn mẫu hành vi đúng, và những hành vi không đúng. Lý thuyết tình cảm gắn bó thì cho rằng, con người có thiên hướng hình thành các mối quan hệ tình cảm chặt chẽ với người khác và khi người ta mất mát hoặc đau khổ, họ biểu hiện ra ngoài là sự cô đơn hoặc tách biệt.
Giai đoạn dậy thì và bắt đầu tuổi vị thành niên là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình phát triển 8 về mặt tình dục và hiểu biết xã hội của một cá nhân. Nếu bố mẹ quan tâm đầy đủ đến con cái trong giai đoạn này, con trai sẽ có nhận thức tốt để kiểm soát hành vi tình dục và tính cách của mình. Cha mẹ cũng phải có vai trò quan trọng trong việc giảng giải và hướng dẫn con cái trong việc xây dựng mối quan hệ tình cảm với người khác. Nam giới có quan hệ tình dục với trẻ em thường có KNS kém và không có sự tự tin cần thiết để xây dựng các mối quan hệ thân thiết với bạn bè đồng trang lứa.
Vì vậy, những người này có thể tìm kiếm cảm giác tình dục với những người nhỏ tuổi. - Lý thuyết nhận thức và hành vi về xâm hại tình dục Lý thuyết nhận thức và hành vi tìm hiểu những suy nghĩ của người xâm hại tình dục trẻ em có tác động như thế nào đến hành vi của họ. Theo đó, khi một người có hành vi lệch chuẩn về tình dục, họ cố gắng xua đi cảm giác tội lỗi và xấu hổ bằng việc suy nghĩ lệch lạc hoặc méo mó về hành vi. Thông thường, những người này sẽ chối bỏ hoàn toàn việc họ đã có hành vi đó, cho rằng người bị hại tự xây dựng nên câu chuyện hoặc đơn giản nói rằng họ không nhớ chuyện gì đã xảy ra hoặc chối bỏ phần nào trách nhiệm bằng việc cho rằng nạn nhân cố tình hoặc gợi ý có hành vi tình dục với họ, hoặc chống cự không theo cách là họ không đồng ý…Tất cả những người xâm hại tình dục đều có xu hướng hiểu sai về lời nói hoặc hành động của trẻ em theo nhiều cách khác nhau và họ càng quen biết với nạn nhân thì điều này càng có khả năng xảy ra.
Những người này thường coi đó là những hành động tình cảm tự nhiên có sẵn trong tất cả những người lớn và cho rằng chính trẻ em khuấy động nó thức dậy. Họ cũng cho rằng trẻ em tò mò về tình dục và muốn biết về nó và họ giảng dạy cho chúng bằng chính những trải nghiệm thực tế. [6] - Mô hình lý thuyết về xâm hại tình dục của David Finkelhor David Finkelhor là một trong những nhà lý luận nổi tiếng về xâm hại tình dục trẻ em. Ông đã đưa ra một mô hình về những điều kiện quan trọng đối với xâm hại tình dục trẻ em.
Mô hình này là sự kết hợp từ nhiều lý thuyết để 9 tìm hiểu về việc tại sao con người bắt đầu tham gia vào hành vi lệch chuẩn về tình dục. Mô hình này giải thích sự phức tạp về đối tượng xâm hại tình dục trẻ em, từ động cơ cho tới việc họ tiếp tục hành vi này như thế nào. Mô hình này bao gồm 4 yếu tố: cảm xúc, khoái cảm tình dục, sự cản trở và việc mất đi phản xạ có điều kiện. Yếu tố cảm xúc ở đây là mối liên hệ giữa nhu cầu tình cảm của người xâm hại tình dục trẻ em với tính cách của đứa trẻ.
Ví dụ, một người xem mình giống như một đứa trẻ hoặc có nhu cầu tình cảm như đứa trẻ nên anh ta muốn xây dựng mối quan hệ với một đứa trẻ. Và nếu anh ta không có đầy đủ các kỹ năng sống để phát triển các mối quan hệ bình thường, anh ta có thể cảm thấy thoải mái hơn nếu anh ta có mối quan hệ với trẻ em do có cảm giác về quyền lực và kiểm soát. Yếu tố khoái cảm tình dục đánh giá nguyên nhân tại sao trẻ em lại gợi khoái cảm tình dục ở một người lớn (trích lại từ Tony Ward và Richard J. Finkelhor sử dụng thuyết học hỏi xã hội để giải thích hiện tượng này.
Theo đó, ông giải thích rằng người có hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã từng bị lạm dụng khi còn là một đứa trẻ và khi lớn lên người đó lại tìm đến trẻ em để có quan hệ tình dục. Yếu tố cản trở ở đây muốn nói đến khả năng của người xâm hại tình dục trẻ em cảm thấy nhu cầu tình cảm và tình dục không được thỏa mãn trong mối quan hệ với người lớn. Ông sử dụng lý thuyết phân tích tâm lý và lý thuyết tình cảm gắn bó để giải thích về yếu tố này. Lý thuyết phân tích tâm lý mô tả những kẻ gạ gẫm trẻ em là những người bất hòa sâu sắc với mẹ khiến họ không thể hiểu và gắn bó được với phụ nữ.
Trong mối quan hệ với những người lớn, những người này không có đầy đủ các kỹ năng xã hội và sự tự tin cần thiết để xây dựng các mối quan hệ. Finkelhor chia sự cản trở thành 2 loại là sự cản trở về mặt phát triển và sự cản trở về mặt hoàn cảnh. Sự cản trở về mặt phát triển là việc một cá nhân bị cản trở về mặt tâm lý khi bước vào giai đoạn phát triển tình dục. Sự cản trở về hoàn cảnh muốn nói đến việc một cá nhân có những nhu cầu tình dục trưởng thành bị cản trở thể hiện tình dục bình 10 thường do những mất mát trong một mối quan hệ, hoặc do một sự kiện nào đó xảy ra khiến họ bị khủng hoảng về tinh thần.
Yếu tố cuối cùng của mô hình là mất đi phản xạ có điều kiện, ở đây có nghĩa là có những yếu tố thúc đẩy người xâm hại tình dục trẻ em vượt qua những suy nghĩ thông thường của mình và tự cho phép mình có hành vi gạ gẫm xâm hại tình dục trẻ em. Trong yếu tố này, Finkelhor xem xét đến việc con người tự bóp méo suy nghĩ của mình để biện minh cho hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Ngoài ra, các yếu tố về tính cách cá nhân như bị stress hay bị lạm dụng cũng khiến người ta khó kiềm chế được cảm xúc và hành vi của mình.