Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HỌC TẬP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu trên thế giới Trong hệ thống trường học của Mỹ và nhiều nước Tây Âu có đội ngũ những người làm Tư vấn học đường chuyên trách (School Counsellor, cũng gọi là Chuyên viên Tư vấn trường học). Mục tiêu chính của tư vấn học đường (School Counselling, TVHĐ) là đáp ứng các nhu cầu được trợ giúp về cảm xúc, xã hội và hành vi của một số đáng kể người học.
Ngoài ra, để can thiệp giúp thiết lập một môi trường học tập thân thiện để hỗ trợ từng học sinh trong số họ theo nhiều cách khác nhau. Carl Rogers (1902-1987, nhà Tâm lý học, Giáo dục học người Mỹ) là học giả có tầm ảnh hưởng rất lớn đầu thế kỷ 20. Ông nổi tiếng với quan điểm nhân văn tiếp cận con người là trung tâm.Rogers là cha đẻ của quan điểm trong dạy học phải lấy người học là trung tâm. Ông là người đưa ngành Tư vấn tâm lý lên địa vị quan trọng với phương pháp tư vấn thân chủ với học trò là trung tâm trong Tư vấn học đường (TVHĐ) [dẫn theo Lê Sơn, 35].
Như vậy, trong rất nhiều nội dung của TVHĐ có các nội dung, nhiệm vụ của tư vấn, trợ giúp người học về mặt học tập, Có thể gọi mảng tư vấn chuyên biệt này là Tư ván học tập (TVHT). Có thể dẫn ra ở đây một số nghiên cứu về một số khía cạnh của TVHT để tham khảo và nghiên cứu vận dụng.Rogers đã đưa ra quan điểm thân chủ là trung tâm (Person- Centred) và vận dụng trong trị liệu tâm lý và TVHĐ. Đó là sự lắng nghe, động viên giúp đỡ giải quyết các khó khăn trong học tập và chia sẻ tâm tư tình cảm, giải toả stress, cải thiện môi trường giáo dục. Như vậy, từ 5 C.Rogers, TVHĐ bắt đầu được nâng lên từ mục tiêu tập trung tư vấn phát triển nghề nghiệp sang tập trung vào các vấn đề cá nhân và xã hội của học sinh, trong đó có vấn đề tư vấn trợ giúp người học vượt qua những khó khăn học tập và trợ giúp cải thiện kết quả học tập.
Năm 1964, công trình nghiên cứu của tác giả E. Iallberg về TVHT cho thấy, quá trình TVHT được thông qua GV, họ gặp gỡ trao đổi thông tin với người học và sẽ cung cấp những thông tin trọng tâm, quan trọng trong học tập mà người học cần biết [dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 13]. Ahmed có bài viết nhằm cung cấp một giải pháp tư vấn toàn diện trợ giúp HS tiếp cận với người tư vấn thật đơn giản và thuận tiện thông qua công nghệ trực tuyến với các nhà tư vấn. Đây là công cụ để giúp người học thành công hơn trong học tập bởi họ có thể truy cập, kết nối với cố vấn bất kỳ lúc nào và quan trọng hơn là được liên lạc trực tiếp mà không cần sự giáp mặt giữa người tư vấn với người học [dẫn theo 13]; Hướng nghiên cứu sử dụng hệ thống thông tin để tìm sự trợ giúp của C.
Amador có bài viết “TVHT qua Facebook: Xem xét trợ giúp người học [39, tr. Cũng cần phân biệt đối tượng, nhiệm vụ, các nội dung TVHĐ (School Counselling) chủ yếu là thực hiện ở học sinh phổ thông, trong điều kiện của nhà trường phổ thông. Khác rất xa với hướng nghiên cứu về Cố vấn học tập ở trường đại học (Academy Advisor, CVHT). Tuy nhiên, về hình thức, phương pháp và các công cụ, phương tiện tư vấn,.TVHT vẫn có thể tham khảo, vận dụng từ những nghiên cứu về Cố vấn học tập.
Chẳng hạn, nghiên cứu TVHT cho HS qua hệ thống công nghệ thông tin [39], [40]. Việc TVHT bằng công cụ phần mềm sẽ hỗ trợ, cải thiện mối quan hệ và sự tương tác giữa GV với HS rất nhiều, đặc biệt trong quá trình học tập và lập kế hoạch học tập cho cả khóa học của HS. Song, bên cạnh đó, hình 6 thức tư vấn trực tiếp giữa GV với HS cũng không thể thiếu vì hiệu quả tích cực của nó. Những nghiên cứu ở Việt Nam Các nghiên cứu về tư vấn, trợ giúp học tập cho học sinh phổ thông đã có rất nhiều và đã từ rất lâu, gắn với các kinh nghiệm quản lý học sinh và quản lý hoạt động học tập trong nhà trường phổ thông.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục dân tộc và giáo dục miền núi, vùng khó khăn, nhằm đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có trình độ cho các vùng dân tộc thiểu số, loại hình trường phổ thông dân tộc nội trú ra đời khá sớm, từ những năm 60 thế kỷ trước. Mãi gần đây, với Luật Giáo dục năm 2005 Quốc hội đã chính thức công nhận loại hình trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) và được đưa vào Hệ thống giáo dục quốc dân. Đến nay, năm học 2022- 2023, đã có 1.124 trường PTDTBT, với 237.608 học sinh bán trú theo học. Các trường PTDTBT đã góp phần to lớn trong việc huy động tối đa học sinh tiểu học, THCS trong độ tuổi đến trường, nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc và các vùng khó [12].
Trong Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT [7] về Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông và trong “Chương trình bồi dưỡng năng lực tư vấn cho giáo viên phổ thông làm công tác tư vấn cho học sinh” được ban hành theo Quyết định số 1876/QĐ- BGDĐT ngày 21.2018 [8] đã xác định TVHT là một nội dung quan trọng trong các nội dung tư vấn cho HS trong các nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, từ góc độ nghiên cứu lý luận cần làm rõ hơn các cơ sở khoa học của TVHT trong các trường PTDTBT-THCS. Nhiều nghiên cứu theo hướng nâng cao chất lượng dạy học các trường PTDTBT đã được thực hiện và công bố, trong đó có những nghiên cứu tập trung vào quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường PTDTBT-THCS. 7 Có thể kể đến một số bài báo Khoa học và luận án, luận văn sau đại học gần đây nhất, như: Đinh Thùy (2018).
Các thầy cô vượt khó chăm lo cho học sinh bán trú ở vùng cao Yên Bái. Vai trò của trường phổ thông dân tộc bán trú trong việc nâng cao chất lượng giáo dục bền vững ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi.vn/giaoducquocdan/giao-duc-dan-toc/Pages/ [21]; Hồ Công Liêm, Lương Thị Bích Ngà (2019). Một số giải pháp quản trị mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú tỉnh lạng Sơn. Kỉ yếu Hội thảo Quốc tế lần 1 về Đổi mới đào tạo giáo viên.
NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội [25]; Đức Trí (2021). Mô hình tự quản trong trường bán trú, nội trú: Trò giúp nhau cùng tiến bộ.vn/mo-hinh-tu-quan-truong-ban- tru. Rèn kỹ năng sống cho học sinh bán trú.vn/ren-ky-nang-song-cho-hoc-sinh-ban-tru- 1631678071013.) Có thể nhận thấy: Rất ít nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động học tập của học sinh các trường PTDTBT. Chỉ vài năm gần đây mới có một số Luận văn Thạc sỹ hướng nghiên cứu vào vấn đề quản lý hoạt động tự học đặc thù của học sinh bán trú ở các trường PTDTBT.
- Phan Ngọc Hải (2014). Biện pháp quản lý hoạt động tự học của HS PTDTNT huyện Kon Plon, tỉnh Kontum. Đại học Đà Nẵng [17]; - Võ Thành Nguyên (2015). Biện pháp quản lý Hoạt động tự học của HS các trường Trung học phổ thông DTNT tỉnh Gia Lai.
Đại học Đà nẵng [28]; - Lê Trung Hiền (2018) Quản lý hoạt động tự học của học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên. Trường ĐHSP- Đại học Thái Nguyên [19]; 8 Những điểm chung của các luận văn này là khảo sát tình hình học tập nói chung, vấn đề tự học nói riêng của học sinh trường bán trú vùng cao với quá nhiều khó khăn, chất lượng rất thấp trong điều kiện của chất lượng giáo dục toàn diện của các trường PTDTBT còn thấp so với yêu cầu và so với mặt bằng chung của bậc học; Nhìn chung, học sinh PTDTBT chưa có phương pháp học tập hiệu quả, chưa đủ tự tin trao đổi với bạn bè và thầy cô khi chưa hiểu bài. Đội ngũ giáo viên còn hạn chế về kinh nghiệm hướng dẫn học sinh phương pháp tự học.Hầu hết các nghiên cứu về quản lý hoạt động học và tự học của học sinh các trường PTDTBT-THCS đều tập trung vào các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhà trường nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của người dạy và người học, tăng cường quản lý thời gian tự học, lập các nhóm phụ đạo, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ học tập,vv. Điều đó cũng đồng nghĩa: các nghiên cứu vấn đề chất lượng học tập của học sinh các trường PTDTBT chủ yếu mới chỉ tiếp cận về mặt quản lý thời gian học tập, quản lý quá trình tự học.mà chưa xem xét đúng mức đến các hoạt động tư vấn học tập (TVHT); Cũng như những biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh ở loại hình giáo dục đặc biệt này, dù đã được đề xuất, song chưa chú trọng và chưa xem xét khả năng trực tiếp tác động hiệu quả đến các nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện tham gia TVHT cho học sinh trường PTDTBT-THCS.
Gần đây, có nhiều nghiên cứu khoa học về tư vấn tâm lý, nhất là tư vấn tâm lý cho HS trong nhà trường phổ thông như: tác giả Lê Sơn với bài "Nhiệm vụ của tư vấn học đường" bao gồm trong đó nhiệm vụ tư vấn học tập cho HS trong nhà trường phổ thông. Tác giả chỉ rõ nhiệm vụ của tư vấn học đường, phân loại tư vấn viên và nhiệm vụ của tư vấn viên trong nhà trường, mô hình và hoạt động của phòng tư vấn tâm lý cho HS [35] Trần Thị Minh Đức đã xuất bản Giáo trình "Tham vấn tâm lý", trong đó xác định mối quan hệ giữa nhà tham vấn và thân chủ được xây dựng trên nền 9 tảng của sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, từ đó đưa ra những quan điểm giúp người học có cách nhìn đúng đắn về thân chủ và các vấn đề của họ, cách nhìn chuyên nghiệp về nhà tham vấn với những năng lực và phẩm chất trong thực hành nghề; Giáo trình cũng hướng dẫn một số kỹ năng cơ bản, quy trình trong tham vấn và giới thiệu để người học thực hành giải quyết các tình huống cụ thể [13].