Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm ở trường phổ thông Quốc tế: Tác giả John Dewey (nhà triết học, tâm lí học người Mĩ) coi trọng việc GD hình thành các kĩ năng, năng lực phẩm chất thông qua các hoạt động tạo cơ hội cho người học được trải nghiệm. Tập san "Kinh nghiệm và Giáo dục" trình bày quan điểm thiết lập mô hình "Nhà trường hành động", nhấn mạnh phương pháp "học đi đôi với hành".
Triết lý then chốt: "Càng ít lý thuyết càng tốt". Tác giả đề cao tinh thần cộng tác, vốn là bản năng của con người. Học sinh cần được rèn luyện kỹ năng hợp tác giải quyết vấn đề, thông qua thực tiễn tại trường học.Cũng trong tác phẩm “Experience and education” (Kinh nghiệm và giáo dục), John Dewey đã có những phân tích sâu sắc về nền giáo dục truyền thống lẫn nền giáo dục hiện đại. Quan điểm của ông là nền giáo dục truyền thống có nhược điểm căn bản đó là không vận dụng những nguyên tắc của triết học kinh nghiệm được phát triển thấu đáo.
Kinh nghiệm và giáo dục có mối quan hệ với nhau. Chỉ khi HS được trải nghiệm thì khi đó tri thức mới được HS lĩnh hội một cách đầy đủ và rõ ràng. Đây là điều mà ông đã làm sáng tỏ. Tác giả David Kolb (nhà giáo dục người Mĩ) trong lý thuyết “Experiential learning” (học qua trải nghiệm) nhấn mạnh việc học qua trải nghiệm đó là kiến thức được tạo ra thông qua kinh nghiệm.
Ông đã khẳng định vai trò của kinh nghiệm trong học tập và đưa ra quy trình học trải nghiệm bao gồm 4 bước: Kinh nghiệm cụ thể; Quan sát suy ngẫm; Khái niệm 8 trừu tượng; Thử nghiệm thực tế. Hội đồng quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, trong báo cáo gửi UNESCO của tác giả Jacques Delors, đã trình bày bốn trụ cột giáo dục then chốt: học để nhận thức, học để hành nghề, học để cộng sinh, và học để trường tồn. Triết lý giáo dục này nhấn mạnh việc trang bị cho học sinh khả năng tự định hướng, hòa nhập xã hội và phát triển bền vững. Mục tiêu giáo dục vì thế là kiến tạo cá nhân tự cường và hội nhập hoàn hảo.
Nghiên cứu "The Experience of Education." của John Polesel nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động trải nghiệm trong việc củng cố mối liên hệ gia đình - nhà trường, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục. Sự hợp tác toàn diện giữa ba trụ cột giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của quá trình giáo dục học sinh. Chỉ khi sự phối hợp này được thiết lập vững chắc, giáo dục mới đạt hiệu quả tối ưu. Ở Việt Nam: Điều 14 Thông tư 32/2020/TT-BGDĐT (15/9/2020) về Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và phổ thông nhiều cấp học, nêu rõ quy định về tổ chức chuyên môn.
Căn cứ quy định này, việc thành lập tổ chuyên môn phụ trách hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là trách nhiệm của hiệu trưởng. Nghiên cứu năm 2015 của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc tại Hội nghị “Công tác xã hội trường học” đã nhấn mạnh sự cần thiết của quản lý hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nhằm phát triển năng lực học sinh phổ thông. Nghiên cứu "Giáo dục Kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học Việt Nam hiện nay" (2016) do Trần Thị Minh Hằng thực hiện đã toàn diện phản ánh thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Bức tranh toàn cảnh này được bổ sung bởi công trình của Bùi Ngọc Diệp ("Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong nhà trường phổ thông," Tạp chí Khoa học giáo dục, số 113, 115/2015) và Đinh Thị Kim Thoa ("Xây dựng chương 9 trình hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông," Hội thảo khoa học quốc tế và giáo dục theo năng lực, Học viện Quản lý Giáo dục, tháng 4/2015), góp phần làm sáng tỏ vấn đề.
Các công trình trên tập trung phân tích vị trí, mục tiêu, nội dung, phương thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, đánh giá ưu điểm, triển khai thực tiễn của các quốc gia, và đề xuất giải pháp ứng dụng hiệu quả tại Việt Nam. Những nghiên cứu này cung cấp cái nhìn đa chiều về vấn đề giáo dục trải nghiệm, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của giáo dục Việt Nam. Việc áp dụng mô hình trường học mới (VNEN) tại một số trường trung học cơ sở trong những năm gần đây đã thúc đẩy mạnh mẽ việc học tập chủ động, trải nghiệm thực tiễn, qua đó khẳng định tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong giáo dục và thu hút sự quan tâm tích cực từ đội ngũ nhà giáo và quản lý. Theo tác giả Đinh Thị Kim Thoa, việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đòi hỏi xác định và thiết lập các phương pháp và hình thức phù hợp.
Một số phương pháp được khuyến nghị bao gồm: giải quyết vấn đề, trò chơi, làm việc nhóm, và nhập vai. Bên cạnh đó, các hình thức như diễn đàn, sự kiện xã hội, hoạt động nhân đạo, giao lưu học hỏi, hội thi/cuộc thi và tham quan thực tế đều được khuyến khích để tạo nên những trải nghiệm giáo dục toàn diện và hiệu quả cho học sinh phổ thông. Những nghiên về giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh ở trường THCS thông qua hoạt động trải nghiệm Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trinh trong nghiên cứu “Giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: xu hướng trên thế giới và vận dụng vào Việt Nam” đã nhấn mạnh đến kĩ năng hợp tác là một thành tố của năng lực hợp tác. “Yếu tố cốt lõi trong bất cứ năng lực cụ thể nào đều là kỹ năng”.
Tác giả 10 đã đề cập đến các nghiên cứu xu hướng tiên tiến của các nước trên thế giới trong giáo dục KN xã hội nói chung, KN hợp tác cho trẻ mầm non nói riêng theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, giáo dục gắn với cuộc sống thực của trẻ. Nghiên cứu của tác giả Lương Phúc Đức, với đề tài "Rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh tiểu học (lớp 4,5) bằng trò chơi khoa học", đã trình bày một cách hệ thống. Bài nghiên cứu này, dựa trên nền tảng lý luận về giáo dục kỹ năng hợp tác, đã tiến hành khảo sát thực tiễn việc áp dụng phương pháp này ở học sinh lớp 4,5 thông qua hoạt động trò chơi khoa học. Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Trần Thị Kim Huệ với đề tài: “Kỹ năng hợp tác của học sinh trường Đại học Phạm Văn Đồng”; Hoàng Thị Phương “nghiên cứu một số biện pháp giáo dục hành vi hợp tác có văn hóa cho trẻ 5 đến 6 tuổi”.
Nghiên cứu này tập trung phân tích các biểu hiện cụ thể của kỹ năng hợp tác đối với học sinh ở trường tiểu học. Đồng thời nhấn mạnh đến các yêu cầu giáo dục cho học sinh có năng lực hợp tác thông qua một số hoạt động tập thể [19]. Các nghiên cứu về quản lý giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh ở trường THCS thông qua hoạt động trải nghiệm Nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm tác giả Nguyễn Văn Lượng, với đề tài “Quản lý hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông” có những nghiên cứu về lý luận và khảo sát về hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp và quản lý hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình GDPT 2018 và đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Thanh Thảo (2020), với đề mục "Quản lý hoạt động trải nghiệm dành cho học sinh THCS Hà Nội trong tiến trình đổi mới giáo dục", đã trình bày một khảo sát toàn diện về 11 quản lý hoạt động trải nghiệm học sinh THCS.
Nghiên cứu này bao gồm việc xác lập cơ sở lý luận, phân tích thực trạng quản lý tại các trường THCS Hà Nội, đặc biệt là sự thích ứng với xu hướng đổi mới giáo dục, và cuối cùng, đề xuất sáu giải pháp nhằm tối ưu hoá hiệu quả quản lý. Giá trị của luận văn này nằm ở sự kết hợp giữa phân tích thực tiễn và những giải pháp khả thi, góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục. Nghiên cứu đạt yêu cầu về tính hệ thống và tính ứng dụng cao. Tác giả Đỗ Thị Thúy Mai (2023) với đề tài “Quản lý giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh các Trường Tiểu học huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam thông qua hoạt động STEM” đã nhấn mạnh rằng bậc học tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em.
Trong đó, kỹ năng hợp tác là một trong những kỹ năng sống và kỹ năng làm việc quan trọng, có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động nhóm của các học sinh. Các trường tiểu học ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã đạt được kết quả tốt trong việc giáo dục kỹ năng hợp tác và tổ chức các hoạt động giáo dục STEM cho học sinh [27]. Luận văn năm 2021 của tác giả Lương Thị Yên, với chủ đề "Quản lý giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh trường Tiểu học Đoàn Thị Điểm - Hà Nội dựa trên phương pháp tham gia", đã trình bày nền tảng lý thuyết về quản lý giáo dục kỹ năng hợp tác trong môi trường tiểu học theo mô hình này. Nghiên cứu đã thực trạng hóa và đánh giá quá trình quản lý kỹ năng hợp tác tại trường tiểu học nêu trên.
Tác giả Đỗ Thị Tuyết Nhung (2020) với đề tài: “Quản lý giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh trung học phổ thông huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng thông qua hoạt động tập thể”. Từ nghiên cứu các công trình khoa học cho thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh các trường trung học cơ sở 12 huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa thông qua hoạt động trải nghiệm. Do vậy, tác giả thực hiện đề tài này để có thể giải quyết được các vấn đề của thực tiễn. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Thuyết quản trị đa dạng quan điểm. Taylor (1856-1915) định nghĩa quản lý là việc hoàn tất nhiệm vụ thông qua nhân sự khác, tối ưu hiệu quả và chi phí.