Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục kỹ năng hợp tác (KNHT) nằm trong giáo dục kỹ năng sống (KNS) đã được nhiều tác giả đã nghiên cứu và đã có rất nhiều công trình trên thế giới đề cập. Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ “Kỹ năng sống” (Life skills) lần đầu được xuất hiện trong các chương trình của UNICEF, trước tiên là chương trình “Giáo dục giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ, bao gồm: hòa bình, tôn trọng, yêu thương, khoan dung, trung thực, khiêm tốn, hợp tác, hạnh phúc, trách nhiệm, giản dị, tự do, đoàn kết.
Chương trình có một kim chỉ nam dẫn đường là cuốn sách “Hướng dẫn các GTS”. Bắt đầu từ sự kiện 20 nhà giáo dục tiêu biểu trên khắp thế giới đã tập hợp tại trụ sở của UNICEF ở thành phố NewYork (Mỹ) vào tháng 8 năm 1996 cùng nhau thảo luận để hình thành chương trình giáo dục dựa trên nền tảng của cuốn sách này. Chương trình đã được đưa vào thử nghiệm từ tháng 2 năm 1997 và kể từ đó đã phát triển rộng khắp. Đến tháng 8 năm 2008, chương trình đã được phổ biến trên 8.000 địa điểm thuộc 80 quốc gia trên thế giới.
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF. Những nghiên cứu về kỹ năng sống trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kỹ năng sống cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kỹ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các 8 nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên.
Theo UNICEF, giáo dục dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi. Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì?) và thái độ (ta đang nghĩ gì?, cảm xúc như thế nào?, hay tin tưởng vào giá trị nào?) thành hành động (làm gì và làm như thế nào?). Một số tác giả đã nghiên cứu kỹ năng học hợp tác tạo nền móng để hình thành kỹ năng hợp tác cho học sinh trong quá trình học cũng như trong cuộc sống hằng ngày. Theo George Jacobs (1999) phân loại kỹ năng học hợp tác thành 3 nhóm: kỹ năng tập hợp nhóm; kỹ năng hoạt động nhóm; kỹ năng giao lưu tư tưởng [34].
Về học hợp tác có nhiều tác giả đề cập tới và là con đường chủ yếu để hình thành kỹ năng hợp tác cho học sinh Tiểu học. Những vấn đề lí luận chung về học hợp tác (Cooperative Learning) đã được Slavin R. Đề cập tới trong các công trình của mình. Hiện nay, dạy học hợp tác và chia sẻ đã được đưa vào như là một phần tất yếu của đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông.
Theo cách thức này các em được tổ chức học theo các nhóm nhỏ, tham gia, chia sẻ, hỗ trợ trong sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua thực hiện các 9 nhiệm vụ và hoạt động học tập nhằm đạt mục đích chung. Muốn thực hiện tốt cách thức dạy học này về phía người học cần phải có một số kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng tìm kiếm và chia sẻ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quan sát, nhận xét, đánh giá, kỹ năng tôn trọng… [35], [36], [37]. Các nghiên cứu về kỹ năng học hợp tác cho thấy đây là hệ thống kỹ năng mở, các nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau nhấn mạnh kỹ năng học hợp tác phù hợp với đối tượng ở từng thời điểm khác nhau. Mặc dù có nhiều cách chia phân, nhưng nhìn chung thì phải có các kỹ năng giao tiếp, duy trì hoạt động nhóm, lãnh đạo và giải quyết bất đồng ý kiến.
Hiện nay, có 143 nước đã đưa chương trình giáo dục chính khóa cấp tiểu học và trung học nội dung giáo dục KNS. Việc giáo dục đó được thực hiện ở ba hình thức: - Kỹ năng hợp tác được dạy trong KNS và được tích hợp trong một số môn và hoạt động giáo dục. - Kỹ năng hợp tác trong KNS được tích hợp vào nhiều môn hoặc tất cả các môn và hoạt động giáo dục. - Kỹ năng hợp tác trong KNS được dạy thành bài riêng biệt.
Một số nước dạy kỹ năng hợp tác được quan tâm và đưa thành bài riêng biệt trong môn giáo dục KNS như: Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a…, còn đa số các nước tích hợp kỹ năng hợp tác trong nội dung giáo dục KNS vào nội dung các môn học và hoạt động giáo dục, một số nước đã sử dụng tiếp cận “Whole School Approach” trong đó có hình thức xây dựng trường học thân thiện để giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh [3][6]. Ở Ấn Độ, giáo dục kỹ năng hợp tác dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất lẫn tinh thần. Kỹ năng hợp tác được giáo dục để giải quyết vấn đề, để làm việc trong môi trường biến đổi, trong môi trường tập thể [3]. 10 Ở Lào, giáo dục kỹ năng hợp tác được quan tâm từ năm 1997 với các nội dung tiếp cận giáo dục phòng tránh HIV/AIDS được tích hợp trong các môn học chính khóa.
Năm 2007, giáo dục kỹ năng hợp tác được đưa vào trong giáo dục KNS và được mở rộng sang lĩnh vực giáo dục dân số, vệ sinh cá nhân, giáo dục và bảo vệ môi trường…Ở Cam-pu-chia, giáo dục kỹ năng hợp tác được triển khai trong giáo dục KNS theo hướng giáo dục kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng nghề nghiệp [3]. Có thể thấy có rất nhiều nước, tổ chức trên thế giới quan tâm đến giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về dạy học hợp tác và là cơ sở để giáo dục kỹ năng hợp tác cho học sinh. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thanh Bình là một trong những người đầu tiên và là người có nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS trong đó có kỹ năng hợp tác. Tác giả đã đưa ra một loạt bài báo, đề tài cấp Bộ, giáo trình và tài liệu tham khảo [3].
Năm học 2002-2003 ở nước ta thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trên cả nước. Chương trình tiểu học đổi mới đã hướng đến giáo dục kỹ năng hợp tác trong KNS thông qua lồng ghép trong một số môn học tiềm năng như: Đạo đức, Tự nhiên - Xã hội (lớp 1-3), Khoa học (lớp 4-5), .… Qua một số hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo chủ đề. Tác giả Nguyễn Dục Quang cho rằng: “Cách thức kỹ năng hợp tác giáo dục trong KNS được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các tổ chức hình thức hoạt động giáo dục kỹ năng hợp tác trong KNS cần quan tâm đến vai trò của người học"[26]. Các công trình nghiên cứu của các tác giả: Đặng Quốc Bảo [1]; Phạm Minh Hạc [11]; Nguyễn Thanh Bình [3] đã định hướng tiêu chuẩn nhất quán của giáo dục KNS trong đó có kỹ năng hợp tác: “Nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống”.
11 Theo Đặng Thành Hưng (2002), học hợp tác v à c h i a s ẻ là phương thức học tập dựa vào môi trường và quan hệ hợp tác, thân thiện, trong đó người học trao đổi với nhau trong hoạt động chung, kết hợp những kinh nghiệm, tư tưởng và năng lực cá nhân thành sức mạnh chung, đồng thời phát triển cá nhân nhờ chỗ dựa là sức mạnh chung này [13]. Theo Nguyễn Thị Thanh (2013) học hợp tác là cách thức học tập trong đó người học được tổ chức thành các nhóm làm việc cùng nhau nhằm hoàn thành các nhiệm vụ học tập, giữa họ có sự tương tác, hỗ trợ, phụ thuộc lẫn nhau, từ đó thói quen, các kỹ năng hợp tác được hình thành và phát triển [28]. Đặng Thành Hưng đã nhận định rằng “Các quan hệ của dạy học hiện đại sẽ phát triển theo xu thế tăng cường sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh"; "Trong quan hệ thầy trò, tính chất hợp tác là xu thế nổi bật"; "Quan hệ giữa người học với nhau trong quá trình dạy học hiện đại nói chung mang tính hợp tác và cạnh tranh tương đối", ông đã làm rõ các khái niệm liên quan đến nhóm hợp tác và so sánh học hợp tác với kiểu học tranh đua và học cá nhân, đồng thời nêu rõ tầm quan trọng của kỹ năng học hợp tác và các nguyên tắc đảm bảo cho dạy học hợp tác thành công [13]. Trong một số nghiên cứu về dạy học hợp tác, Đặng Thành Hưng đã cập nhật lý thuyết và kỹ thuật thiết kế học liệu [15], thiết kế phương pháp dạy học theo chiến lược hợp tác [14].
Các nghiên cứu khác của ông và của tác giả Trần Thị Tuyết Oanh về kỹ năng học tập cũng đã làm rõ thêm các khái niệm về kỹ năng, năng lực, các tiêu chí nhận diện và đánh giá chúng [30]. Căn cứ vào cơ cấu nhiệm vụ học tập, Đặng Thành Hưng đã xác định "Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại" bao gồm các nhóm kỹ năng nhận thức học tập, nhóm kỹ năng giao tiếp và quan hệ học tập, nhóm kỹ năng quản lý học tập và trong đó có những kỹ năng học hợp tác [13], [14]. Một nghiên cứu khác Thái Duy Tuyên (2008) [32] đã phân tích rõ kỹ năng học hợp tác là một dạng kỹ năng rất quan trọng đối với con người cũng 12 như đối với học sinh, trong học tập hợp tác học sinh có cơ hội bộc lộ, thể hiện mình trong giao tiếp; làm việc hợp tác; Học hỏi lẫn nhau; đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau. và có cơ hội rèn luyện, phát triển những kỹ năng đó.